Bà
Maria Ma-đa-lêna, Minh Đức Vương Thái
Phi, 1558-1649
Tại
Thuận Hóa, phong trào tòng giáo lan rộng là nhờ
hành động truyền giáo và gương sáng
của bà tiết phụ chúa Nguyễn Hoàng (chúa
đã được cha Ordonez rửa tội,
thánh hiệu là Gregori, ngày 17-9-1591). Bà là vợ
thứ 10 của chúa Nguyễn Hoàng, tước
hiệu Minh Đức Vương thái phi. Lúc
sinh Hoàng Khê, bà mới 21 tuổi, chúa Nguyễn
Hoàng 64 tuổi. Bà được lãnh nhận
Rửa tội năm 1625, (lúc ấy bà chừng
51 hay 52 tuổi), tên thánh là Maria Ma-đa-lê-na,
tại Phước Yên, do cha Francesco di Pina, Dòng
Tên, người Ý. Cha Pina từng giảng đạo
tại Hội An, Qui Nhơn, Cửa Hàn từ
năm 1617. Cũng năm nay, tháng 12- 625, cha Pina
qua đời tại ven biển Đàng Trong
(châu Hóa, tỉnh Thuận Hóa). Theo cha Đắc
Lộ, người có mặt trong Lễ Rửa
tội của Bà Minh Đức, thì trước
kia "bà là người rất sùng Phật."
Khi đã theo Công giáo, Bà lại đem hết
mình phụng sự đức tin, mà còn sót sắng
hơn trước nữa. Cha Đắc Lộ
đã là nhân chứng về đời sống
sống đạo của Bà:
"Trong
suốt thời kỳ tôi ở xứ này, tôi
vẫn gặp bà, và tôi tưởng rằng từ
28 năm nay, bà vẫn một lòng bền đỗ
trong sự thực hành đầy đủ
các nhân đức Công giáo.
"Bà
lập ra trong Dinh bà một ngôi nhà nguyện rất
đẹp, mà bà vẫn cố duy trì trong mọi
cơn cấm đạo ngặt nghèo; ngày ngày
bà làm các việc đạo đức trong nhà
nguyện đó, và bà mở rộng cửa cho
các giáo hữu cả tỉnh đến cầu
nguyện; trong tỉnh này, quyền thế của
bà rất lớn, một lời bà nói ra không
ai dám cưỡng. Bà đã dùng các lời lẽ
khôn ngoan làm cho nhiều người rất sùng
Phật trong nước trở lại với
đức Tin Công giáo, trong số đó có cả
ngững người họ hàng với nhà chúa.
Hiện nay bà vẫn là nơi nương tựa
của tất cả các giáo sĩ chúng tôi, và
chẳng có giáo hữu nào mà bà chẳng hết
lòng giúp đỡ".
Bà Minh
Đức hằng lo lắng cho con cháu được
ơn Rửa tội. Vì Hoàng Khê con bà là nhân vật
quan trọng trong Triều nên bà đã xin các vị
giáo sĩ tìm cách chinh phục dùm. Đã có lúc ông
sẵn sàng, nhưng sau ngăn trở lại
hoãn lại. Nhưng bà cũng đạt được
mong ước đối với một số
con cháu. Bà đã trao phó cho cha Busomi 6 đứa
con cháu, gồm một cô gái 20 tuổi, có lẽ
là con của Hoàng Khê, vì ông này có tới 29 con,
13 trai và 16 gái.
Ngoài ra,
bà còn làm việc truyền giáo giữa đồng
bào khắp nước. Bà nhiệt thành việc
truyền giáo dưới mọi hình thức,
như gây dựng nhà thờ, giúp đỡ giáo
sĩ, che chở giáo dân, làm gương sáng, khuyến
dụ nhiều người trở lại với
Chúa... Bà thật là bậc tiền hô, là chiến
sĩ buổi đầu đối với tổ
chức Công giáo Tiến hành. Thật vậy,
chỉ 4 năm sau khi bà Minh Đức được
lãnh nhận bí tích Rửa tội, 1625, số
giáo hữu đã tăng lên tới 15,000 tín hữu
vào năm 1629. Tiếp 10 năm sau, khi nhiệm
vụ của cha Busomi chấm dứt, 1639, số
giáo hữu lên tới 50,000 người.
Cha Đắc
Lộ trở lại Đàng Trong năm 1640,
lên thẳng kinh đô, cha gặp lại bà Minh
Đức. Cha có lần nói: "Bà lớn
này về phương diện đạo đức
lại còn lớn hơn nữa". Cha ở
lại trong dinh, tại nhà nguyện của Bà.
Đây phải gọi là "Trung
Tâm Truyền giáo đầu tiên".
Trong 30 ngày, cha đã rửa tội được
94 người, gồm 3 bà có họ rất gần
với bà Minh Đức. Nhất là nhờ bà,
có một thầy chùa trở lại. Ông này sau
rất nhiệt thành và được ơn
lạ lùng là khuyên bảo được nhiều
người trở lại Công giáo. Cũng như
ở Đàng Ngoài, cha Đắc Lộ đã
lập Hội Thầy Giảng ở Đàng
Trong. Đứng đầu là thầy Inhaxiô.
Ông này trước kia có gia đình, sau vợ
chết, xin giúp việc trong dinh ông Hoàng Khê. Nhờ
gương sáng và ảnh hưởng của
bà Minh Đức, Inhaxiô trở lại, và trở
nên một đầu mục giúp cha Đắc
Lộ rất sốt sắng. Sau 8 tháng, cha Đắc
Lộ buộc phải theo lệnh trục xuất,
Bà Minh Đức và các thầy giảng, nhất
là Inhaxiô tất cả đã nên riềng cột
cho giáo dân khi vắng bóng các linh mục. (Minh Đức
Vương Thái Phi, PĐK. tr.28).
Phái đoàn
truyền giáo do các thầy giảng VN, đứng
đầu là thầy I-nha-ti-ô. Chỉ trong thời
gian ngắn 3 tháng, các thầy đã Rửa tội
được 303 người. Thầy Inhatiô
trước tiên hoạt động tại Thuận
Hóa, kinh đô của chúa Nguyễn. Tại đây,
các thầy rất phấn khởi gặp được
sự giúp đỡ tận tình đặc biệt
của Bà Minh Đức. Riêng thầy giảng
Inhatiô lại càng có liên hệ mật thiết
với bà, vì trước khi tòng giáo, Inhatiô đã
từng làm quan trong dinh ông Tổng trấn Nguyễn
phúc Khuê, con trai bà. Do đó, nhờ gương
sáng của bà mà trở lại Công giáo. Nay Inhatiô
đã là lãnh tụ của các thầy giảng,
trong khi bà Mai Hoa đã trở nên người
cầm đầu các giáo hữu, hai tông đồ
gặp nhau, họ càng chiếu sáng đức
Tin ở chốn kinh đô.
Ngoài ra
bà Minh Đức Vương Thái Phi và các thầy
giảng còn được sự cộng tác
đắc lực của các giáo hữu Công giáo
từ các nơi xa thường xuyên liên lạc
với kinh đô, để làm việc truyền
giáo. Lễ Sinh nhật năm 1643, đoàn thầy
giảng đang có mặt tại Kinh đô. Và
lịch sử Giáo Hội VN đã được
ghi "Một cuộc mừng Lễ Sinh Nhật
khá long trọng, tổ chức ngay trong Dinh ông
Tổng Trấn Nguyễn Phúc Khuê, con bà Minh Đức.
Tại đây, thầy giảng An-rê (Người
Chứng Thứ Nhất), vốn có tài khéo léo,
đã dựng nên một hang đá rất đẹp,
có tượng Chúa Hài Đồng, nằm trong
Máng cỏ, giữa thánh Giuse và Đức Mẹ
Maria. Giáo hữu khắp vùng kéo tới viếng
lạy Chúa Hài Đồng. Chính ông Tổng Trấn
Nguyễn Phúc Khuê cùng tất cả con cháu, gia
nhân, cũng "đến thờ lạy và
triều yết Vua vinh hiển xuống thế
làm người". Vì không có linh mục, không
có Thánh lễ Misa, nhưng có một điều
đặc biệt: Một phụ nữ đã
mạnh dạn và sốt sắng lên tiếng
trước mặt đông đủ các giáo
hữu và quan khách, để giảng những
sự cao cả về Chúa Giáng trần. Phụ
nữ ấy không ngoai ai khác hơn là Bà Minh Đức,
mẹ quan Tổng trấn, bà Dì của Chúa Thượng.
Bà Minh Đức chẳng những sống hết
đời chúa Nguyễn Hoàng và chúa Sãi, mà còn sống
sang đời chúa Thượng, đến đầu
đời chúa Hiền là chắt nội chúa
Nguyễn Hoàng nữa.
Nhưng
từ ngày tòng giáo, Bà Minh Đức đã phải
đương đầu với biết bao
nỗi gian nan và gặp biết bao đau khổ.
Như mối đau chịu tang của cha thiêng
liêng, Francesco di Pina, vị rửa tội cho bà,
khi hay tin cha bị chết đuối tại
cửa Hàn; như nghi kỵ cho là bà có nhờ
giáo sĩ tìm cắt đất đặt mồ
mả cho mình và con cháu; như vụ bà Tống
Thị lộng hành, là "dâm hậu" trong
cung chúa Thượng, bà này rất ghét người
theo Công giáo, sát hại thầy giảng Anrê, làm
bà Minh Đức đau đớn muôn ngàn. Cuộc
tử đạo của thày giảng Anrê, 26-7-1644,
mở đầu giai đoạn đau thương
của Giáo Hội VN, cũng là đem lại
cho bà Minh Đức cuộc tử đạo
hai phần hồn xác. Nhưng nỗi đau
đớn nhất là con bà ,ông Hoàng Khê, để
lấy lòng chúa Thượng, ông đã cho phá nhà
nguyện của mẹ, ngày 20-2-1645. Về việc
đau khổ này, bà Minh Đức đã bỏ
nhà con ra đi suốt 8 ngày, than khóc vì nhận
tội con như tội của chính mình. Chỉ
năm sau, 22-8-1646, ông Hoàng Khê qua đời, không
được rửa tội! Cái chết chưa
được rửa tội của con, càng
làm cho bà Minh Đức đau đớn vô cùng!
Vào khoảng
giữa tháng 2-1645, một tàu bị bão trên đó
có 4 nữ tu dòng Kín Clara và 2 giáo sĩ Phanxicô,
chạy vào ẩn tại cửa Hàn. Chúa Thượng
được tin, mời họ lên kinh đô
yết yến. Trước đó, các bà còn ở
lại Thuận Hóa 10 ngày (cuối tháng 2-1645),
bổn đạo kéo tới đong thăm các
bà. Nhất là bà Minh Đức, đã kín đáo
gặp và tỏ lòng xin các bà một bộ áo
Dòng, như dấu hợp nhất tâm hồn,
và xin sẽ mặc áo vào mình trong giờ chết
và an táng. Các chị Dòng đã cho theo ý bà Minh Đức,
sau đó họ từ giã nhau. Điều này
chứng tỏ lòng mong ước của bà,
và kể như bà đã được nhận
là nữ tu của Dòng, vì là hoàn cảnh đặc
biệt. Các cha và cà các bà đã nhận bà Minh
Đức làm thành viên của hội dòng Phanxicô
và Clara.
Theo các
tài liệu, bà Minh Đức chết vào khoảng
cuối năm 1648 hay đầu năm 1649. Như
vậy bà thọ ngoài 80 tuổi.
Thật
là một lời ca ngượi chân thành đối
với sự nghiệp tông đồ của
Bà Matia Mađalena Minh Đức Vương Thái
Phi: Nếu người ta nói nhà truyền giáo
là một Giêsu thứ Hai, "Alter Christus",
thì trong trường hợp này cũng có thể
nói: Bà Minh Đức là một "Maria thứ
Hai". Và nếu nói các cha Busomi và Đắc
Lộ là những nhà khai sáng Giáo Hội VN, thì
Bà Minh Đức là người Đồng Công
khai sáng Giáo Hội VN. Đời sống của
Bà thật "là ánh sáng... chiếu sáng trước
mặt dân chúng để họ xem thấy việc
lành của Bà mà ngượi khen Thiên Chúa Cha chúng
ta ở trên trời" (Mt 5:14-15).
Chính nhờ
ký sự của giáo sĩ Saccano, chúng ta được
biết về cái chết của bà Minh Đức:
"Hổi ấy giáo Hội Đàng Trong rất
đau buồn về cái chết của bà Vương
phi Maria, là cô mẫu của vua mới chết
(Công Thượng Vương, mới từ
trần ngay 19-3-1648). Các giáo hữu đã phải
thiệt hại rất nhiều vì sự từ
trần của bà chúa này, Lúc sinh tiền đã
che chở họ trong những cơn đau buồn,
và rất sốt sắng chinh phục các linh
hồn cho Chúa Giêsu. Bà tôn kính giữ Nước
Phép trong nhà để phân phát cho các giáo hữu.
Việc ấy đã làm cớ cho một trong
những cháu nội của bà, (tức là con cả
của Hoàng Khê, đã làm trưởng tộc
từ năm 1646), phao đồn đi khắp
nơi rằng Nước phép của bổn
đạo là một thứ bùa ếm, làm bằng
chân và tay chặt của trẻ em. Tiếng đồn
này làm cho người ta ghê tởm người
Công giáo. Nhưng kẻ phao đồn chẳng
bao lâu đã bị Trời phạt: Nó bị
chúa Hiền xử tử vì một tội xấu
xa là dám thông đồng cùng cô mẫu của
vua đương triều, tức là bà Tống
Thi. Bà Tống Thị này, sau này cũng bị
chúa Hiền xử tử (PĐK sách Minh Đức
VTP tr. 88).
Không có
linh mục nào có mặt giúp bà Minh Đức
lúc lâm chung, vì lúc ấy cha Saccano vắng mặt,
và nếu có mặt cũng khôn thể rời
Hội An để lên kinh đô làm việc tôn
giáo. Nhưng chắc chắn Bà Minh Đức
vẫn trung thành giữ đạo cho đến
hơi thở cuối cùng. Mặc dầu Chúa
đã an bài cho bà một lối chết, nhưng
cuộc đời của bà đã là một
đường thánh giá liên tiếp, thì cái chết
của bà, cuối năm 1648 hay đầu năm
1649, cũng phải là cuộc tử đạo
thiêng liêng vậy! Bà hưởng thọ 80 tuổi,
thủ tiết 36 năm và can đảm giữ
vững đức tin, và tận tụy với
công cuộc truyền giáo suốt 24 năm. Khi
bà Minh Đức qua đời, Giáo hội Đàng
Trong đã được 60,000 tín hữu.
(xin
đọc: Princesse Chretienne của Cadière; Relation
Progres Foi của A.R. tr. 34-35; 47; Minh Đức
Vương Thái Phi và Người chứng thứ
Nhất (tr.47; 89) của Phạm Đình Khiêm)