|
|
135.
Ta phải lệ thuộc thế nào cho tuyệt
đối?
Muốn
tuyệt đối lệ thuộc vào Mẹ,
đòi ta cần phải thể hiện sự
bé dại non nớt ít là ở hai khía cạnh.
Thứ nhất là ở khía cạnh trí năng:
ta phải ý thức rõ ràng và chấp nhận mình
phải tuyệt đối lệ thuộc ở
Mẹ. Con trẻ thơ dại chỉ lệ
thuộc người mẹ một cách tư nhiên,
nó không có ý thức gì, không có tự do nào. Em nhỏ
lúc đó còn như mới sống đời thực
vật, chỉ mới có cơ năng dinh duỡng
và tăng trưởng, không cảm biết chút
gì về sự lệ thuộc của em. Dần
dà lớn lên, em cứ theo đà phát triển về
trí năng và ý chí mà có thểkhông còn muốn lệ
thuộc vào mẹ em nữa, có khi còn nổi loạn
phản đối Mẹ. Nhưng trong đường
thiêng liêng, ta phải noi gương Chúa Giêsu, ý
thức rõ ràng tình trạng yếu đuối
dại khờ của ta, mà thú nhận và chấp
nhận ta phải tuyệt đối lệ thuộc
vào Mẹ Maria y như và còn hơn con trẻ sơ
sinh lệ thuộc mẹ mình, dầu cho bản
năng và trí năng tự nhiên có chống lại,
có phản đối.
Thứ
hai là khía cạnh ý chí: Ý chí là động lực
thúc đẩy và là sức mạnh để ta
chế ngự bản năng tự nhiên muốn
to muốn lớn của ta, theo ánh sáng của
trí năng và nhất là của đức tin soi
dẫn. Về phương diện này, ý chí của
ta phải ngoan ngoãn theo trí năng hướng
dẫn, đức tin chỉ huy và ơn Chúa soi
sáng thúc giục mà nỗ lực thực thi và sống
những đức tính của đường
lối thơ ấu thiêng liêng: đó là khiêm nhường
thật thẳm sâu; trong sạch không tì vết;
đơn sơ rất giản dị. Thêm vào
đó, ta còn phải tập luyện và chiếm
thủ cho bằng được sự bình an
tâm hồn trước hết mọi nghịch
cảnh; sự quân bình phẳng lặng và thuận
hòa trong cuộc sống giao tế gia đình, thân
tộc, bè bạn, láng giềng; sự ngoan ngùy
dễ dậy đối với giới luật
Phúc Âm, các kỷ luật và lời khuyên của
Hội Thánh; sự tin cậy tuyệt đối
vào Mẹ và Chúa như đã nói trên (số 129-131);
và sự phó thác hoàn toàn cho Chúa Quan Phòng trong hết
mọi biến cố chung riêng gặp trong đời
sống. Sự lệ thuộc tuyệt đối
thơ dại có ý thức và tự do này đối
với Mẹ Maria là một hành vi hết sức
đẹp lòng Thiên Chúa, như lời Thánh Kinh:
"Từ miệng
trẻ thơ chưa biết nói, còn phải sống
nhờ vú mẹ, Thiên Chúa được ca tụng
nhất"
(Tv 8:3), và có lợi cho ta nhất: "Ai
hạ mình xuống như trẻ này sẽ là người
lớn nhất trên Nước Trời"
(Mt 18:4).
136.
Tính chất việc thực thi sự lệ thuộc
ấy thế nào?
Vấn
đề này chỉ xin nói rất sơ lược:
nếu đi vào chi tiết thì dài quá. Nói cho gọn,
ta phải liên tục, trọn vẹn và phổ
quát lệ thuộc vào Thiên Chúa nhờ Trái Tim
Mẹ.
Lệ
thuộc liên tục có nghĩa là không đứt
quãng trong thời gian: luôn luôn phải thể hiện
cái "bây giờ" (số 83) của việc
tận hiến. Không một phút giây nào ta rời
xa bàn tay bênh đỡ phù trì của Mẹ. Làm
việc gì cũng phải xin phép Mẹ, nghĩa
là dành ra một ít giây phút, hoặc lâu hơn nữa,
để suy xét và nhớ đến Mẹ, tự
hỏi xem nếu ở trường hợp đó,
Mẹ sẽ cư xử thế nào. Mẹ có
cho phép mới được làm: nghĩa là ít
nhất điều đó không trái tiếng lương
tâm, không nghịch với luật Phúc Âm và luật
Hội Thánh, mới được làm . . .
Lệ
thuộc trọn vẹn có nghĩa là lệ thuộc
hoàn hảo, không một thiếu hụt, một
sứt mẻ nào. Bao giờ ta cũng phải
chăm chú lệ thuộc vào Trái Tim Mẹ bằng
toàn bộ trí năng, toàn bộ ý chí, và toàn bộ
hữu thể của mình. Không cắt xén chút gì,
cũng không bẻ lệch đi phía nào, cứ
nhắm thẳng thánh Ý Chúa biểu lộ qua ý
muốn của Mẹ . . .
Lệ
thuộc phổ quát là lệ thuộc không trừ
ở một nơi nào, một việc gì, một
biến cố nào, dầu ảnh hưởng
bao quát đến cả thế giới, cả
Hội Thánh, cả quốc gia, dầu nhỏ
bé chỉ liên hệ đến gia đình mình,
bản thân mình . . .
Đó
là ba tính cách không có không được của
sự lệ thuộc vào Mẹ, để nhờ
Mẹ lệ thuộc vào Chúa Giêsu. Có lệ thuộc
như vậy ta mới sống được
một đời thơ dại hoàn toàn, đáng
Chúa ban nhiều ơn thánh, để luôn luôn phó
thác tận tuyệt trong tay êm mát của Mẹ.
Nhờ thế lúc nào ta cũng vui tươi hồn
nhiên, không lo quá khứ, không sợ hiện tại,
cũng chẳng màng chi tới tương lai.
Vì ta đã nắm chắc rằng quá khứ của
ta ở trong Tình Thương của Chúa, hiện
tại của ta ở trong Tình Chúa yêu ta và tình
ta yêu Chúa, còn tương lai của ta thì ở
trong sự Quan Phòng đầy khôn ngoan từ ái
của Chúa.
Đó
là một phó thác hoàn toàn vô điều kiện
mà ta có thể lấy Bánh Thánh Thể làm mẫu
gương. Thật vậy, không có mẫu gương
phó thác nào hoàn hảo hơn Bánh Thánh là Chúa Giêsu
Thánh Thể. Ta hãy xem Bánh Thánh không một mảy
may phản ứng, không một mảy may ngang
ngạnh nào, cứ để mặc cho người
ta chạm tới, cầm lấy, mang đi và
cho đi một cách phó thác biết bao! Để
mặc cho người ta giấu kín trong Nhà Tạm
cũng như đặt trong Mặt Nhật tỏa
sáng biết bao! Và cũng (ôi mầu nhiệm!)
để mặc cho những tâm hồn bội
bạc tục hóa nữa! Đúng thế, Bánh Thánh
Thể thực sự chỉhoàn toàn để
mặc người ta, chỉ là mềm mỏng,
với một tinh thần tuân phục ngoan thảo
hoàn toàn. Vì qua mọi trung gian của bàn tay loài
người, Bánh Thánh chỉ phó mặc tay Cha trên
trời: Bánh Thánh trao mặc số phận mình
vào tay Cha. Linh hồn tận hiến cho Trái Tim
Mẹ để nhờ Mẹ, mặc bàn
tay Cha trên trời sử dụng như vậy.
Có như thế mới là lệ thuộc vào Trái
Tim Mẹ, vào Cha trên trời hoàn toàn, tận tuyệt.
137.
Phải thực hiện sự lệ thuộc
ấy thế nào?
Muốn
thực hiện sự lệ thuộc Mẹ đúng
với ba tính cách trên, ta phải sẵn sàng và ngoan
ngoãn thưa lên những lời "Này
con", "Xin Vâng". "Ngợi khen",
những lời mà chính Mẹ Maria ngày xưa đã
tự nguyện thốt ra từ tận đáy
lòng Mẹ, từ tận Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ,
để chứng tỏ tình Mẹ lệ thuộc
tuyệt đối vào Thiên Chúa.
"Này
con: Ecce"
là lúc nào cũng nhớ thân phận mình là người
con tận hiến của Mẹ, là sở hữu
của Mẹ. Mẹ muốn sử dụng ta
vào việc gì, Mẹ muốn đưa ta vào cảnh
vực nào, Mẹ muốn ta chịu một hi
sinh đau khổ nào . . . , ta đều thưa
ngay lời "Này
con" chìm
ngập trong vực thẳm tình yêu của Mẹ,
với ý hướng của Mẹ, y như Chúa
Giêsu ngày xưa đã thưa lên với Chúa Cha lời
"Này con đến
để thực thi Thánh Ý Cha"
(Dt 10:9): thực thi trọn vẹn Thánh Ý
Cha trong máu lệ chan hòa và trên khổ giá nhục
nhã để cứu chuộc loài người.
Và y như Mẹ Maria đã thưa lên lời "Này
con là nữ tỳ Chúa"
(Lc 1:38): nữ tì nhu hạ, sẵn sàng hiến
mình đồng công trong việc cứu chuộc
thế gian.
"Xin
Vâng: Fiat"
trong mọi hoàn cảnh với tất cả tâm
tình tùng phục Thánh Ý Chúa, dầu gian nan khốn
khổ, dầu vui sướng ngọt ngào, dầu
buồn bã ủ ê, dầu thảnh thơi hoan
lạc . . . Đừng vì việc xảy
ra trái bản năng ta, ý nghĩ ta, ý muốn ta
mà phản kháng Thánh Ý Chúa. "Xin Vâng"
phải là lời thưa luôn sẵn có trong trái
tim ta, để rồi vui thốt ra ngoài môi miệng:
nguyện cho Thánh Ý Chúa, ý muốn của Mẹ
nên trọn từng nét, chứ đừng cho việc
này việc nọ xảy ra theo ý muốn của
ta, như Chúa Giêsu đã "Xin
Vâng" trong
cơn hấp hối toát mồ hôi máu trong vườn
cây dầu (Lc 22:42). Và như Mẹ Maria
đã "xin
vâng" trong
ngày Truyền Tin, dầu biết mình thưa lên
lời đó là phải chu toàn sứ mạng đồng
công não nề khổ thống. Đó là những
lời "xin
vâng" đầy
tràn những đợt sóng tình yêu cứu chuộc.
"Ngợi
khen: Magnificat"
là lời biểu lộ tâm tình cảm tạ Chúa
và Mẹ vì đã để xảy ra việc này
việc nọ, biến cố này biến cố
kia, làm sáng danh Chúa và Mẹ, mưu ích cho loài người.
Đó là lời
"ngợi khen"
vọt mạnh về nguồn Tình Yêu. Phận
con nhỏ dại của ta xin tình nguyện mờ
đi, lụt đi, để một mình vinh
quang Chúa và Mẹ ngời sáng, đúng như lời
Thánh Vịnh: "Xin
đừng làm vinh danh chúng con, nhưng xin làm vinh
danh Chúa"
(Tv 115:1). Như Mẹ Maria dầu đang
cưu mang Con Thiên Chúa trong lòng, và được
bà Isave ca ngợi là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ cũng
chỉ vang lên lời "Ngợi Khen" với
tư cách là một nữ tì khiêm hạ được
Thiên Chúa đoái nhìn (Lc 1:46).
Ta hãy thành
tâm đốt thơm hương lòng khẩn thiết
cầu xin cho mọi lúc
"bây giờ"
liên lỉ trong đời ta được đan
kết bằng lời "Này
con" mau
mắn; lời
"xin vâng"
phục mệnh; và lời "ngợi
khen" trầm
hùng, thành nên một khúc hợp tấu hòa nhịp
với lời "Này
con, xin vâng, ngợi khen"
của Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Nếu thực hiện
được như thế, ta sẽ làm vinh
danh Chúa rất nhiều, mưu ích cho tha nhân rất
tốt, việc tông đồ của ta thật
kết quả, và bản thân ta được
chìm sâu xuống đại dương tình hiền
mẫu Maria. Vì bản thân ta càng mờ xóa đi
bao nhiêu, thì Chúa và Mẹ càng vinh danh bấy nhiêu,
việc tông đồ và tha nhân càng được
ích lợi bấy nhiêu.
Để
thực hiện cụ thể sự lệ thuộc
Mẹ này, ta hãy sống "phút
giây của Mẹ".
Phút giây ấy hệ tại bốn hành vi sau đây,
trước khi ta làm bất cứ việc gì:
1. Hạ
mình khiêm nhượng trước mặt Chúa và
Mẹ vì ta tội lỗi, bất xứng và bất
lực đối với mọi việc lành.
2. Từ
bỏ tất cả những gì là quan điểm
của ta, ý riêng của ta.
3. Dâng
mình hoàn toàn cho Mẹ như một dụng cụ
ngoan ngãn, một sở hữu của Mẹ, để
Mẹ sử dụng tùy ý Mẹ.
4. Khiêm
nhượng xin Mẹ hành động trong ta,
để việc ta làm chỉ cốt sáng danh
một mình Chúa.
Có thể
tóm bốn hành vi trên vào lời nguyện tắt
này: "Ôi Maria,
con rất hèn hạ khốn nạn; con xin từ
bỏ mình con và phó thác cho Mẹ hoàn toàn; xin Mẹ
(làm việc này) thay con, cho sáng danh Chúa".
5. Noi
theo gương Mẹ
138.
Vì lý do nào ta phải noi theo gương Mẹ?
Ta đã
biết: Mẹ Maria là Gương Mẫu đường
trọn lành (số 35-39), một gương
mẫu Chúa muốn ta noi theo trên đường
sống đạo thánh Chúa của ta, vì Mẹ
Maria là bản sao sống động Chúa Giêsu Con
Chí Thánh Mẹ hơn hết mọi bậc thần
thánh. Quả thật, noi gương Mẹ là một
cách tỏ lòng tôn trọng tế nhị nhất
ta có thể dâng kính Mẹ, vì không những ta tung
hô Mẹ là gương mẫu trọn lành ở
lời nói, mà còn ở cả việc ta làm nữa.
Càng sát lại gần Mẹ bao nhiêu, ta càng sát lại
gần Chúa Giêsu bấy nhiêu. Cho nên ta phải hết
sức học tập các nhân đức của
Mẹ, suy niệm và cố gắng đem ra thực
hành. Để thể hiện việc đó cho
có nhiều kết quả tốt đẹp, cha
Olier và thánh Môngpho cao tiếng mời gọi ta
hãy cố gắng chu toàn tất cả và từng
việc ta làm nhờ Mẹ, với Mẹ, trong
Mẹ, và cho Mẹ Maria.
139.
Chu toàn mọi công việc nhờ Mẹ như
thế nào?
Làm mọi
việc nhờ Mẹ, trước hết là làm
do Mẹ thúc giục và do sức mạnh ân sủng
Mẹ ban cho ta. Nghĩa là vâng lời Mẹ trong
mọi sự và để mặc tinh thần
Mẹ hướng dẫn. Thứ đến,
làm mọi việc nhờ Mẹ là xin Mẹ làm
trung gian để ta đến với Chúa Giêsu
và hợp nhất với Chúa. Là nhờ tay Mẹ,
nương cậy vào sự cầu bầu của
Mẹ mà dâng lễ vật của ta lên Chúa.
Là chạy ào vào lòng Mẹ, nhõng nhẽo nài xin Mẹ
phù trợ. Là vào học trong học đường
của Mẹ để nhậnbiết và yêu mến
Chúa Giêsu hơn. Sau cùng là nhờ Mẹ xin cho ta
các ân sủng cần thiết để noi gương
Mẹ, sống cuộc đời đồng
công của Mẹ nhằm cứu rỗi các linh
hồn.
Một
điều cần nhớ là ta hành động
nhờ Mẹ, chỉ nhằm mục đích là
làm hoàn hảo mọi việc trong đời ta
nhờ Chúa Giêsu (per Christum Dominum nostrum) thôi,
như Hội Thánh quen cầu xin.
140.
Phải hành động với Mẹ là thế
nào?
Điều
kiện tiên quyết để hành động
với Mẹ là phải liên lỉ kết hợp
với Mẹ; luôn ở bên Mẹ, luôn sán
lại gần Mẹ. Sau khi đã nhờ ơn
Mẹ thúc giục mà hành động, ta còn cần
phải luôn sống dưới sự hướng
dẫn của Mẹ và trong tầm ảnh hưởng
của Mẹ, luôn nhìn lên Mẹ, xin Mẹ chỉ
dẫn. Cũng cần phải nhờ tay hiền
mẫu của Mẹ nâng đỡ giúp sức
và, nếu cần, còn nâng ta dậy. Đó là một
thực hành cần thiết để hành động
với Chúa Giêsu Kitô, Đấng là Sức Mạnh
của ta. Mọi nơi mọi lúc, ta phải
cộng tác với Mẹ, hợp nhất với
Mẹ, hòa hợp tư tưởng, ý chí và hành
vi với Mẹ nhằm hòa hợp với Chúa
Kitô.
Hành động
với Mẹ còn là nhìn nhận Mẹ là gương
mẫu và là Đấng Cộng Tác với ta. Mỗi
lần bắt đầu làm việc gì, ta hãy hồi
tâm tự hỏi xem nếu ở trường
hợp của ta, Mẹ sẽ làm thế nào; và
khiêm nhượng cầu xin Mẹ giúp ta hòa hợp
việc ta làm với ý muốn của Mẹ, nghĩa
là ta tuyệt đối lệ thuộc Mẹ
vậy (số 136).
Đó
chính là theo sát giáo lý Hội Thánh dạy rằng
hành động của ân sủng có hai giai đoạn:
thúc đẩy ban đầu, rồi cộng tác
với ta khi hành động. Cho nên hành động
nhờ Mẹ và với Mẹ là ta bám sát lời
Hội Thánh dạy ta. Phần ta, ta hãy tin thật
rằng: "Với
Mẹ, không gì là khó, không gì lo ngại; với Mẹ,
dẫu ít cũng ra nhiều, hư vô cũng nên
giàu có; với Mẹ, dẫu yếu đuối
cũng sẽ thắng hỏa ngục, dẫu
tội lỗi khuyết điểm tràn trề
cũng sẽ tới bậc trọn lành cao chót;
với Mẹ, mọi nguyện vọng chính đáng
đều được thoả mãn".
141.
Còn hành động trong Mẹ thì sao?
Hành động
trong Mẹ cũng là lệ thuộc vào Mẹ,
đi vào quĩ đạo của Mẹ, nhằm
theo quan điểm của Mẹ, gắng nhìn
ý hướng của Mẹ mà làm mọi việc
để phục vụ vinh quang Chúa như Mẹ
đã làm. Mặt khác, hành động ở đâu
thì tác nhân cũng ở đó, nếu không ở
đó theo bản thể thì cũng theo năng
lực hay ảnh hưởng. Mẹ Maria không
ở trong ta theo bản thể, song theo năng
lực và ảnh hưởng. Vì thế, hành động
trong Mẹ ở đây có nghĩa là ta được
đặt vào ảnh hưởng của Mẹ,
dưới ánh nhìn của Mẹ, bằng năng
lực của Mẹ; được lời cầu
xin của Mẹ theo dõi và ơn của Mẹ
phù trì. Tất nhiên là khi hành động trong Mẹ,
ta cũng phải nhằm theo chủ đích là
hành động trong Chúa Kitô, được Chúa
Kitô lôi kéo ta vào quĩ đạo và quan điểm
cũng như ý hướng của Chúa.
Hiệu
quả của hành động trong Mẹ là ta
được bảo vệ trước mọi
quấy rối hay tấn công của ba thù. Thánh
Phaolô từng viết: "Nếu
Chúa ủng hộ ta, thì ai làm gì được
ta?" (Rm
8:31). Ta cũng có thể nói tương tự:
nếu Mẹ Maria bảo vệ ta, thì ai làm gì
được ta?
142.
Thế nào là hành động cho Mẹ?
Hành động
cho Mẹ có nghĩa là làm mọi việc nhằm
phụng sự Mẹ, làm cho mọi người
nhận biết và yêu mến Mẹ để
tôn vinh Mẹ. Ta nên lưu ý rằng hành động
cho Mẹ, nhìn nhận Mẹ làm mục đích
của mọi việc ta làm, cũng vẫn còn
là một cách hành động trong Mẹ như
vừa nói trên. Theo kế đồ của Thiên
Chúa, lụy phục Mẹ là ta được
gồm vào trong Mẹ như phương tiện
gồm trong mục đích. Tất nhiên Mẹ
Maria không phải là mục đích sau cùng của
ta, nhưng là mục đích trực tiếp mà
ý chí của ta an thỏa trong đó như trong
mức cuối cùng. Song bao giờ cũng phải
hiểu Mẹ sẽ đưa ta tới đích
sau hết là Chúa Giêsu Con chí thánh Mẹ.
Đó
là bốn cách thức ta cần noi theo trong hành
động. Song không phải là cứ mỗi việc
làm ta đều phải nhằm theo cả bốn
cách đó. Ta chỉ cần nhằm theo một
trong bốn cách ấy là đủ: bốn cách
thức đó như các vòng xích liên kết với
nhau, mắc vào vòng này là ta được cả
ba vòng kia lôi cuốn. Cho nên không cần phải
lo lắngnhắm theo cả bốn cách thức
trong một việc ta làm, chỉ cần luyện
tập làm theo một trong bốn cách thức:
nhờ - với - trong - cho Mẹ đã đủ.
6. Thực
thi lời Mẹ dạy
143.
Lời Mẹ dạy ở đây hiểu thế
nào?
Lời
Mẹ ở đây hiểu về sứ điệp
Mẹ trao cho thế giới khi hiện ra ở
Fatima năm 1917. Theo các sử gia bình luận biến
cố Mẹ hiện ra ở Fatima ấy, thì Fatima
thiết yếu là một sứ điệp cứu
rỗi, một sứ điệp cứu rỗi
cấp bách. Fatima là tiếng kêu cứu nhức
nhối của một người mẹ nhìn
thấy lũ con mình sắp rơi xuống một
vực thẳm sâu khôn dò. Như vậy, sứ
điệp Fatima cũng có một tính cách thời
sự nóng bỏng, một tin giờ chót quan trọng
mà một người con tận hiến cho Trái
Tim Mẹ không được phép không biết
đến. Sứ điệp ấy chính là khát
mong căn bản của Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ
Maria khi hiện ra ở Fatima, gồm gói trong lời
vắn tắt này:
"Nếu
người ta thực thi điều Mẹ muốn,
thì nhiều linh hồn sẽ được cứu
rỗi, và thế giới sẽ hoa bình".
Lời
đó gồm gói hai lời hứa: một về
thiêng liêng (nhiều linh hồn được
cứu rỗi), một về trần gian (thế
giới hòa bình), và một điều kiện
(nếu người ta thi hành điều Mẹ
muốn). Điều Mẹ muốn đây
quen gọi là ba mệnh lệnh cấp tốc:
cải thiện đời sống; cầu nguyện
bằng kinh Mân Côi; và tôn sùng Trái Tim Mẹ. (Xin
đọc lại số 115, 116 để biết
rõ tại sao mệnh lệnh Fatima có tính cách thời
sự).
144.
Phải cải thiện đời sống thế
nào?
Sự
cải thiện đời sống nói đây theo
ngôn ngữ Phúc Âm, có nghĩa là sự ăn năn
sám hối và hi sinh: "Nếu
các người không sám hối thì các người
sẽ hư đi hết . . . Nếu muốn
theo Thầy, các con hãy vác thập giá mình mọi
ngày mà theo"
(Lc 13:5; 9:23). Như vậy, mệnh lệnh
cải thiện ở Fatima cũng chỉ là lặp
lại lời Phúc Âm. Mệnh lệnh này có hai
phần: cải thiện đời sống và
hi sinh. Cải thiện đời sống tức
là từ bỏ nếp sống cũ, nếp sống
mà ta đã khôngnhiều thì ít ảnh hưởng
vết thương nổi loạn của thời
đại (số 115), nhất là do những
lỗi lầm nặng nhẹ của ta. Tình trạng
đó ta không cần nhắc lại. Mỗi người
hãy quì gối xuống, chắp tay lại, lục
xét mọi ngóc ngách góc xó của lương tâm
mình, xưng thú tội lỗi mình, nhận thật
trách nhiệm sa ngã của mình. Rồi quyết
tâm lột bỏ con người cũ kỹ xấu
xa ấy, để xin Trái Tim Mẹ mặc cho
ta một con người mới giống Chúa Giêsu
bằng cách vui chịu hi sinh.
Sự
hi sinh mà Trái Tim Mẹ đòi hỏi ở đây
để cứu nhiều linh hồn khỏi
hỏa ngục và mưu hòa bình cho thế giới
chẳng có gì là khó nhọc. Theo lời Mẹ dạy
Lucia, một trong ba trẻ thị kiến ở
Fatima, thì sự hi sinh ấy hệ tại mỗi
người tự tình sống một cuộc
đời chính trực trong sự chu toàn lề
luật Chúa, chu toàn bổn phận hằng ngày
của mình một cách lương thiện. Điều
này, Đức Thánh Cha Phaolô VI, trong Tông Hiến
Poenitemini ban bố ngày 17.02.1966, cũng kêu gọi
thực thi khi dạy các tín hữu vâng theo luật
Chúa bằng cách vui chịu những hi sinh và thử
thách đi liền với cuộc sống hằng
ngày.
Mệnh
lệnh cải thiện đời sống do
Trái Tim Mẹ ban bố, như vậy, chẳng
có gì là quá yêu sách, chỉ có việc thánh hóa đời
sống hằng ngày noi theo luật Chúa là đủ.
Việc đó linh hồn quảng đại tự
tình tận hiến làm sở hữu của Trái
Tim Mẹ, ắt phải nhìn nhận là bổn
phận chủ yếu hàng đầu của mình,
vì đó chính là lệ thuộc tuyệt đối
vào Mẹ, vâng theo ý Mẹ hoàn toàn.
145.
Mệnh lệnh cầu nguyện thế nào?
Cũng
như việc cải thiện nói trên, việc
cầu nguyện có nền tảng vững chắc
ở Phúc Âm. Chúa Giêsu từng dạy môn đệ
cách cầu nguyện (Lc 11:2) và truyền cho
môn đệ phải cầu nguyện luôn mọi
lúc (Lc 21:36). Thành ra mệnh lệnh cầu
nguyện Mẹ Maria truyền ở Fatima cũng
chẳng có gì mới lạ. Chính cách cầu nguyện
Mẹ dạy cũng đã có từ lâu đời
trong Hội Thánh. Đó là cầu nguyện bằng
kinh Mân Côi: cả sáu lần hiện ra, Mẹ đều
đòi ta phải dùng kinh Mân Côi mà cầu nguyện,
và lần thứ sáu, Mẹ còn long trọng tỏ
mình ra là Mẹ Rất Thánh Mân Côi. Như vậy
đã rõ kinh Mân Côigiữ một địa vị
trọng yếu trong mệnh lệnh Mẹ ban
bố. Chúng ta không cần phải nhắc lại
đây giá trị và hiệu lực của kinh
đơn sơ mà dễ dàng này, mà chỉ cần
chú ý hai điểm Mẹ yêu sách:
a/
Phải đọc kinh Mân Côi hằng ngày, ít là
năm chục (nguyên
tiếng Bồ Đào Nha, Đức Mẹ nói
là "o terco", có nghĩa là một phần
ba tràng hạt 150 kinh, tức một chuỗi năm
chục). Ta
cũng từng biết kinh Mân Côi gồm có hai
yếu tố gắn liền nhau như hồn
với xác, đó là đọc ngoài miệng và
suy niệm mầu nhiệm cuộc đời
Chúa Giêsu và Mẹ Maria đã được đề
ra trong mỗi chục kinh. Nếu chỉ đọc
mà không suy niệm thì chưa phải là cầu
nguyện bằng kinh này. Ta cũng cần biết
là lời than Mẹ dạy đọc sau mỗi
chục kinh cốt ý cầu cho kẻ có tội
trở về với Chúa: tiếng "linh hồn"
trong câu đó có nghĩa là kẻ có tội, dos
peccadores (tiếng Bồ), chứ không phải
là các linh hồn Luyện Ngục như có người
hiểu sai (xin coi lại số 113). Đó
là nguyện vọng tối thiểu của Mẹ.
Nhưng vì kinh Mân Côi là chìa khóa mở kho tàng
Thiên Chúa, là búa sắt phá tan kẻ thù nghịch,
nên người con tận hiến cho Mẹ hãy
cố gắng đọc mỗi ngày nhiều
hơn, để cầu xin Chúa ban muôn ơn cho
thế gian, và cứu rỗi nhiều linh hồn.
b/
Mỗi thứ Bảy đầu tháng, hãy dành ra
mười lăm phút "kết
hợp với Mẹ"
để suy niệm riêng về một mầu
nhiệm nào đó trong mười lăm mầu
nhiệm Mân Côi, không kèm theo với việc đọc
kinh ngoài miệng. Chủ ý của Mẹ ở
đây là cốt gợi lại hồn nội
tâm của ta trong thế kỷ đầy ồn
ào hỗn loạn xô bồ này. Người ta bỏ
việc suy niệm Phúc Âm, nên mới không còn nhiệt
thành sống đạo nữa. Kinh Mân Côi, theo
lời Đức Gioan XXIII, là một cuốn
Phúc Âm rút gọn; nên suy niệm và sống một
mầu nhiệm Mân Côi là ta suy niệm và sống
cuộc đời cứu chuộc của Chúa
Giêsu và cuộc đời đồng công của
Mẹ Maria, để thực sống đạo
Chúa. Đó là một sự cần thiết buộc
phải có để ta hưởng nhờ ơn
cứu chuộc và cầu cho các tội nhân. Mỗi
tháng tính ra có 43,200 phút, Mẹ chỉ xin ta có 15
phút ngắn ngủi để cùng với Mẹ
suy niệm một mầu nhiệm Mân Côi. Các linh
hồn đã quảng đại tận hiến
cho Trái Tim Mẹ có thể bưng tai lại trước
lời khẩn thiết xin nài ấy của Mẹ
được không?
146.
Còn mệnh lệnh tôn sùng Trái Tim Đức Mẹ?
Ở
Lời Nói Đầu tập này, ta đã bàn sơ
qua về việc tôn sùng Trái Tim Mẹ có một
nền tảng lịch sử như thế nào.
Ở Fatima, ngày 13.6.1917 Mẹ đã nói:
"Chính Chúa Giêsu muốn thiết lập sự
tôn sùng Trái Tim Mẹ trên khắp thế giới",
vì đây là phương pháp cuối cùng Chúa muốn
ban cho loài người để họ sử
dụng mà hưởng nhờ ơn Cứu Chuộc.
Mệnh lệnh này cũng có hai yếu tố:
a/
Tận hiến cho Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ: ta
đã biết rõ lý do của việc tận hiến
này (số 49-57). Hiện giờ ta đang
tìm hiểu về sự tận hiến ấy
để thực thi, nên không cần phải
nói thêm.
b/
Mỗi thứ Bảy đầu tháng, hãy rước
lễ đền tạ những sỉ nhục,
những tội ác phạm đến Trái Tim Mẹ.
Tất nhiên để rước lễ nên, ta
cần phải có đủ các điều kiện
như giáo lý Hội Thánh dạy. Đây cũng
không phải là việc mới lạ, mà thực
ra Mẹ chỉ nhắc lại một truyền
thống trong Hội Thánh. Thật vậy, từ
đầu thế kỷ 18, cha De Clorivière (đơ
Clôrivie) đã khởi xướng việc này.
Ngày 13.6.1912, Đức Thánh Piô X đã ban một
ơn đại xá cho những ai xưng tội
rước lễ các thứ Bảy đầu
tháng để đền tạ Mẹ. Ngày 9.11.1920,
Đức Bênêđitô XV lại ban ơn đại
xá giờ lâm chung cho những ai đã tám thứ
Bảy đầu tháng làm việc trên. Ở Fatima,
Mẹ hứa ban những ơn cần thiết
để được chết lành cho những
ai xưng tội rước lễ năm ngày
thứ Bảy đầu tháng liên tiếp, kèm
theo việc suy niệm mười lăm phút về
Mầu Nhiệm Mân Côi đã nói trên. Song ta cũng
cần biết đến những ý chỉ của
Mẹ trong việc rước lễ đền
tạ này. Có năm ý chỉ:
1. Đền
tạ những tội phạm đến ơn
Vô Nhiễm Thai của Mẹ.
2. Đền
tạ những phỉ báng phạm đến
Đức Trinh Khiết trọn đời của
Mẹ.
3. Đền
tạ những tội chối bỏ ơn làm
Mẹ Thiên Chúa và Mẹ loài người của
Mẹ.
4. Đền
tạ những tội tước đoạt
của thanh thiếu niên quyền học giáo lý.
5. Đền
tạ những tội bất kính phạm đến
tượng thánh của Mẹ.
Đó
là hai yếu tố quan trọng trong mệnh lệnh
tôn sùng Trái Tim Mẹ mà Mẹ đã ban truyền
ở Fatima. Ba mệnh lệnh trên đều nhằm
mục đích là loại trừ tội lỗi
ra khỏi thế giới, cứu các tội nhân,
sao cho mọi người từ bỏ những
vết thương nổi loạn của thế
giới, mưu một cuộc hoà bình lâu dài, và
nhằm để Hội Thánh Chúa vinh quang.
7. Trung
thành bền vững
147.
Trung thành là gì?
Theo nghĩa
chữ, trung thành có nghĩa là chu toàn thật đúng
những điều mình đoan hứa, thủ
tín điều mình thề nguyền, dầu có
thế nào cũng không bỏ dở, không thất
tín. Theo nghĩa trong Hội Thánh, trung thành là đức
tính của một người có đức tin,
có lương tâm ngay chính, quyết định
làm tròn mọi lời thề hứa, mọi nghĩa
vụ mình đối với Thiên Chúa, Hội Thánh
và tha nhân. Trung thành với việc tận hiến
cho Trái Tim Mẹ ở đây, như vậy,
có nghĩa là giữ vững một dạ
trinh trung với tình yêu mến Trái Tim Mẹ
mà ta đã tin tưởng phú thác trọn vẹn
cho. Lại có nghĩa là một lòng bền vững
siêu nhiên trong ơn Chúa gọi tận hiến cho
Trái Tim Mẹ; theo nghĩa này thì trung thành lại
đồng nghĩa với ơn bền vững
đến cùng (số 110).
Trung thành
là đức tính của người muốn nên
thánh, và chỉ có kẻ bền vững đến
cùng mới được cứu rỗi (Mt
10:22). Nếu trung thành, bền gan với việc
tận hiến cho Trái Tim Mẹ đến cùng,
thì thật đáng ca tụng như lời Chúa
Thánh Thần phán trong Thánh Kinh: "Người
trung thành sẽ được nhiều ca tụng"
(Cn 28:20). Thế nên, dầu có sốt sắng
nhiệt thành đến đâu, nhưng thiếu
lòng gan góc trung thành cho đến chết, thì việc
tận hiến của ta cũng không có giá trị.
Có thể nói, nếu thiếu lòng trung thành, thì
lời tận hiến ta đọc cũng như
tiếng trống đánh chuông kêu, chữ ta trịnh
trọng ký kết vào bản tận hiến cũng
như vết chân con vật đi trên cát!
148.
Ta phải trung thành với những gì?
Nói sơ
qua vào chi tiết, thì ta phải trung thành với
những sựkiện sau:
1. Với
ơn phép Rửa tội, vì việc tận hiến
cho Mẹ là một cách tuyên lại lời hứa
khi chịu phép Rửa (số 108). Hiệu
quả của phép Rửa trước tiên là rửa
sạch nguyên tội mà ta mắc phải vì là con
cháu Adong; thứ đến, ban cho ta sự sống
siêu nhiên (số 64) với toàn bộ của
cải thiêng liêng siêu nhiên cần có để ta
đáng được cứu rỗi (số
66). Về phía ta, ta còn có lời thề hứa
lúc đó là từ bỏ ma quỉ và mọi sự
sang trọng của nó.
2. Với
huấn giới của Chúa gồm trong mười
giới răn, với lề luật Chúa trong
Phúc Âm, và với kỷ luật của Hội
Thánh ban hành. Huấn giới và lề luật Phúc
Âm là những huấn giới và lề luật
vĩnh cửu, ngàn đời không thể thay
đổi; còn kỷ luật Hội Thánh thì Hội
Thánh có thể thay đổi, chứ ta không được
phép tự tiện thay đổi theo ý mình.
3. Với
đức tin truyền thống, tinh ròng, không
pha lẫn một hơi hó tà thuyết nào; một
đức tin mạnh mẽ, thực hành, chứ
không yếu đuối, tê liệt; nhất là
phải sống đức tin ấy luôn bằng
việc làm (Gc 2:27), dầu có phải đổ
máu, phải chết cũng sẵn sàng để
bảo vệ đức tin chân thật ấy
như bao đấng anh hùng tử đạo
cha ông chúng ta ngày trước. Lại phải trung
thành với những nhân đức từ ngàn
xưa của Hội Thánh, mà có người gọi
là những nhân đức thụ động,
như: khiêm nhượng, bỏ mình, diệt cái
tôi vĩ đại, tuân phục tuyệt đối,
tiết độ, khổ chế . . . những
nhân đức mà các thánh từng thực thi và
Hội Thánh hằng nắm giữ. (Vì
hiểu sai nên người ta mới cho đó là
nhân đức thụ động, chứ thực
ra đó là những nhân đức rất chủ
động, vì ta thực hiện với tự
do: đã có tự do là không còn thụ động
nữa).
4. Với
Hội Thánh Rôma, và nhất là với Đức
Thánh Cha, Đấng Chúa Giêsu đã đặt để
tiếp tục việc cứu thế, để
cầm quyền cai trị Hội Thánh, để
chăn giữ đoàn chiên Chúa. Đức Thánh
Cha là Đấng Thẩm Phán tối cao, Đấng
Lập Luật công chính, Đấng bảo vệ
kho tàng chân lý và đức tin mặc khải, Đấng
làm Thầy tối cao dạy dỗ sự chân
thật với đặc ân vô ngộ khi ngự
toà. Ngài là Cha Chung của toàn thể tín hữu
Công Giáo, là Chúa Giêsu hữu hình hiện ở trần
gian, là Đấng Lãnh Đạo tinh thần tối
cao và phổ quát của toàn thếgiới. Trung
thành với Đức Thánh Cha và với Tòa Thánh
Rôma, đó là nhiệm vụ hàng đầu của
bất cứ kitô hữu nào. Kẻ nào không trung
thành với Đức Thánh Cha, hoặc muốn
ly khai với Tòa Thánh Rôma, kẻ đó sớm muộn
sẽ lìa bỏ Hội Thánh, liều mình đi
vào những nẻo lạc đưa tới diệt
vong. Người con tận hiến cho Mẹ không
những phải hết sức hết lòng trung
thành với Đức Thánh Cha và Tòa Thánh Rôma, mà
còn cần thiết tha cầu nguyện cho Ngài
và Hội Thánh, nhất là khi Ngài bị tấn
công từ tứ phía. Phải có tâm hồn yêu mến
Đức Thánh Cha và Hội Thánh.
5. Với
những thực hành của việc tận hiến
cho Trái Tim Mẹ, ít là như nói trong bản
giáo cương này.
6. Với
các bổn phận và nghĩa vụ ta phải
chu toàn tùy địa vị của ta, cũng như
với đức ái ta thực thi đối với
tha nhân.
7. Với
các ơn Chúa soi sáng bề trong tùy nhiệm vụ
theo bậc ta và tùy hoàn cảnh ta gặp.
Đó
là một vài chi tiết gợi ý. Còn hằng
ngày, ta phải năng hồi tâm để sống
thật trung thành với một của lễ
tận hiến, một sở hữu của Mẹ,
không còn quyền lợi gì, song tuyệt đối
tín thác, và tuyệt đối lệ thuộc Trái
Tim Mẹ trong tất cả mọi sự.
149.
Phải làm thế nào để trung thành bền
vững?
Đây
mới là chủ chốt vấn đề. Muốn
trung thành bền vững ta cần chuyên chăm
thực thi những việc saụ:
1. Năng
suy niệm về việc tận hiến, ít là
như đã nói trong bản giáo cương này.
Càng suy niệm nhiều, ta càng khám phá ra những
vẻ đẹp phong phú quyến dũ tâm hồn
ta, giúp cho ta có một niềm thâm tín rất chắc
chắn ăn chặt vào trí năng ta, và không gì
có thể gột rửa đi được.
Như vậy cũng mới chỉ là bước
đầu. Ta còn phải làm cho sự thâm tín ấy
từ trí năng đi vào ý chí ta, bện chặt
cứng vào đó thành một yếu tố bất
khả di dịch. Phần đông chúng ta, đối
với các vấn đề siêu nhiên của đạo
thánh Chúa, trong đó có việc tận hiến cho
Trái Tim Mẹ, nó chỉ hời hợt ở
ngoài giác quan, cùng lắm là đi vào tới tình
cảm, chứ chưa mấy ai để nó đi
vào trí năng, bắt trínăng phải hàng phục
trước ánh sáng của nó. Huống hồ lại
để nó đi vào ý chí, đồng hóa với
ý chí thì càng hiếm hoi hơn. Chính trí năng và
ý chí mới là đèn sáng và động lực
giúp ta trung thành.
2. Đó
là công việc làm bên trong. Bên ngoài, ta cần phải
thao luyện việc thực thi tận hiến
cho Trái Tim Mẹ trở thành tập quán. Thí dụ
bất cứ khi làm việc gì, gặp ngộ
biến nào, dù to dù nhỏ, ta cũng tập thói
quen than thở vắn tắt: "Ôi
Maria, con xin tận hiến việc con làm đây
cho Mẹ",
hoặc: "Ôi
Maria, toàn thân con đã thuộc trọn về Mẹ,
xin Mẹ tùy ý sử dụng con như sở hữu
của Mẹ", v . v . . .
Hằng ngày cứ lập đi lập lại
mãi như vậy. Rồi ngày qua ngày, tháng qua tháng,
năm qua năm, tập quán đó sẽ biến
thành bản tính thứ hai của ta, không sao bỏ
đi được nữa, giống như một
người nghiện chất ma túy. Chính tập
quán đó là một yếu tố giúp ta trung thành
bền vững đến cùng.
3. Thứ
ba là một thực hành tâm cảm: việc tạ
ơn. Có thể nói được tận hiến
cho Trái Tim Mẹ là một ơn gọi đặc
biệt, Chúa giấu những người khôn
ngoan thông thái, mà chỉ ban cho những người
bé mọn (Mt 11:25). Ai được ơn
gọi này, đó là một dấu chắc chắn
Chúa tiền định cho họ nên giống hình
tượng Con của Chúa (Rm 8:2). Đó là
một ơn tuyệt vời cao quí, ta không thể
nào tạ ơn cho cùng được. Theo
lời các thánh, mỗi khi được ơn
Chúa ban, ta thành khẩn tạ ơn Chúa thì Chúa lại
ban thêm nhiều ơn khác. Một cách tạ ơn
đẹp lòng Chúa hơn cả là ta hãy nhờ
Mẹ và cùng với Mẹ tạ ơn Chúa bằng
bài ca "Ngợi Khen" của Mẹ.
Chính sự nhớ tạ ơn Chúa này sẽ giúp
ta trung thành bền vững đến cùng với
ơn Chúa.
4. Việc
thực thi thứ bốn là cầu nguyện.
Chúa từng dạy rằng: "Ai
xin sẽ được, ai tìm sẽ thấy,
ai gõ cửa sẽ mở cho"
(Lc 11:10). Ta hãy chuyên chăm cầu nguyện
và tìm thêm thời giờ cầu nguyện. Hãy cầu
nguyện trong âm thầm im lặng, để
lòng ta nói với Chúa, với Mẹ, xin nài Chúa,
Mẹ ban cho ta ơn trung thành với việc tận
hiến đến cùng. Thánh Môngpho mách nước
cho ta là hằng ngày hãy đọc một trăm
lần câu: "Lạy
Đức Nữ Trung Tín, xin cầu cho chúng con",
chắc chắn Mẹ sẽ nhậm lời ta.
Theo lời các thánh, Chúa thắng hết mọi
người, chỉ chịu thua có người
cầu nguyện. Tahãy bền lòng cầu nguyện
nhiều, Chúa sẽ phải thua ta mà ban cho ta ơn
trung thành đến cùng. Nếu có thể, mỗi
năm ta phải dành ra ít ngày để tĩnh
tâm cầu nguyện thêm.
5. Việc
thực thi thứ năm là tác động yêu mến
liên lỉ: "Giêsu
Maria Giuse, con mến yêu, xin cứu rỗi các linh
hồn".
Đây là một lời nguyện vắn tắt
mến yêu hoàn toàn nhất, vì ta tỏ lòng yêu mến
cả ba Đấng từng đã mến yêu Thiên
Chúa hơn hết, và cầu cho các linh hồn,
cả tội nhân, cả luyện ngục. Đó
là một hành vi đức ái hoàn hảo diễn
tả được lòng ta yêu thương tha
nhân hơn cả, vì ta mong cho họ được
cứu rỗi là ơn trọng đại vô cùng.
Nó gồm tóm cả hai giới răn trọng
đại nhất của Lề Luật là mến
Chúa yêu người (Mt 12:30-31). Lời đó
lại phát tự đáy lòng ta, nên đã thực
hiện được yêu sách Chúa đòi phải
yêu mến Chúa hết lòng, từ đó ảnh
hưởng tới cả nghị lực cả
trí năng ta (Mt 22:37). Và vì bản chất
lời nguyện đó là thực hiện việc
mến yêu liên lỉ, nên ta lại thực thi được
lời Chúa đòi phải luôn cầu nguyện
(Lc 18:1). Thực thi như vậy là ta đã
thực sống cuộc sống siêu nhiên nhằm
làm vinh danh Chúa, thánh hóa bản thân và bền vững
đến cùng. Chính Chúa Giêsu cũng phán với
một linh hồn ưu tuyển: "Nguyên
một lời than: 'Giêsu Maria Giuse, con mến yêu,
xin cứu các linh hồn', đủ đền
bồi cho nghìn lời xúc phạm. Linh hồn nào
có thiện chí yêu mến Cha và muốn biến
đời sống mình thành một việc yêu
mến liên lỉ - tất nhiên với cả trái
tim - từ thức giấc cho đến an giấc,
thì Cha sẽ làm những việc phi thường
cho người đó".
Linh hồn
tận hiến cho Trái Tim Mẹ, theo lời thánh
Gioan Kim Khẩu nói về những người
vừa rước lễ, là những con sư
tử mạnh mẽ thở ra lửa, và làm cho
ma quỉ phải kinh hoàng. Họ tiến lên mạnh
mẽ chiếm Nước Trời (Mt 11:12).
Không một chướng ngại nào cản ngăn
nổi họ: họ bản chất yếu đuối,
nhưng lại làm được mọi sự
trong Đấng bổ sức cho họ (Ph 4:13).
Cho nên, với những thực thi trên, họ nhất
định sẽ trung thành bền vững đến
cùng với việc họ tự tình tận hiến
cho Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ, cốt nhằm để
Nước Mẹ huy hoàng, Nước Chúa vinh
quang.
150.
Việc tận hiến cho Trái Tim Đức Mẹ
có đề ra trách vụ nào không?
Đây
là câu hỏi và trả lời sau cùng trong tập
giáo cương này. Xét tự nó, nếu ta không
ngậm ý làm một việc thề nguyền,
một việc tuyên khấn, thì việc tận
hiến cho Trái Tim Mẹ không hề buộc thành
tội trọng hay tội nhẹ nào cả. Vì
thế, ai thiếu sót cách nào bất cứ vì thất
tín với việc tận hiến này xét vì là tận
hiến, thì không phạm một lỗi nào theo
nghĩa đen. Tuy nhiên, xét theo nghĩa rộng
của tiếng trách vụ, thì việc tận
hiến cho Trái Tim Mẹ có mang theo những
trách vụ vinh dự, gồm tóm trong hai nguyên tắc
thực hành sau đây:
1. Tôi đã
được tận hiến hoàn toàn cho Chúa Giêsu
nhờ Mẹ Maria. Vì thế, tôi không còn quyền
theo ý tôi mà định đoạt điều
gì về thân xác tôi, linh hồn tôi, giác quan tôi, tài
năng tôi, tài sản thiêng liêng và vật chất
của tôi . . . nữa. Chỉ khi nào được
Mẹ Maria ưng thuận, tôi mới được
làm việc định đoạt ấy.
2. Tôi đã
là sở hữu của Mẹ Maria, nên Mẹ sẽ
tùy ý Mẹ định đoạt mọi sự
liên hệ đến tôi. Tôi chỉ còn có một
việc là thưa lên lời "Này
con, Xin Vâng, Ngợi khen"
trong tất cả mọi sự Mẹ sẽ
cùng với Chúa Giêsu Con Mẹ định đoạt
về tôi mà thôi.
Cần
một thái độ hoàn toàn tín thác, tuyệt đối
lệ thuộc vào Mẹ là đủ để
ta chu toàn những trách vụ vinh dự ấy.
Hết
|
|