|
|
MẸ
GIÁO HỘI
Trong mấy bài trước
chúng ta đã đề cập đến vấn
đề Đức Maria là Mẹ ta. Người
cưu mang chúng ta khi thưa hai tiếng “Xin vâng”.
Người sinh ra chúng ta dưới chân thập
giá đẫm máu, nhưng luôn vững lòng tin hơn
bất cứ một anh hùng tử đạo
nào khác trong lịch sử Dân Chúa. Lòng tin đó
khiến Đức Mẹ trở thành Mẹ giáo
hữu. Nhưng giáo hữu là ai nếu không phải
là thành phần của nhiệm thể Đức
Kitô, tức là Giáo hội. Đó là biệt điểm
mà Công đồng Vaticanô II đề cập trong
hiến chế về Giáo hội “Lumen Gentium”,
chương 8. Từ nay chúng ta sẽ theo sát văn
kiện Công đồng để tìm hiểu Đức
Mẹ dưới nhãn quan mới mẻ đó.
Nhưng trước hết, chúng ta nên đi vào
lịch sử chương 8 của hiến chế
Lumen Gentium. Một điều đáng chú ý là Ủy
ban Tín lý chuẩn bị Công đồng đã nhận
được rất nhiều lời yêu cầu
của mọi giới trong Giáo hội xin soạn
một lược đồ bàn về Đức
Mẹ Maria là Mẹ Thiên Chúa và Mẹ loài người,
để thoả mãn những yêu sách của tinh
thần đại đồng của việc
bành trướng thánh mẫu học trong thời
hiện đại, theo như những hô hào của
các vị Giáo Hoàng từ Đức Piô IX trở
về đây.
Bản lược đồ đã được
soạn thảo, bàn cãi thực kỹ lưỡng
trước khi trao cho các Nghị Phụ, theo lệnh
Đức Giáo Hoàng Gioan 23 vào tháng 11 năm 1962,
như là một chương của Hiến chế
về Giáo Hội. Bản lược đồ
này không được bàn đến trong khoá họp
đầu tiên, mà phải chờ mãi tới phiên
họp khoáng đại thứ 36, ngày 7-12-1962.
Vị Tổng thư ký, Đức Cha Pericle Felici
xin các Nghị phụ cho biết ý kiến trước
ngày 28-2-1963 có nên cho lược đồ này vào
trong Hiến chế về Giáo Hội, với
nhan đề là :Giáo Hội và Đức Trinh
Nữ Maria” không.
Ngày 21 tới 27 tháng 1 năm 1963 Ủy ban Phối
trí quyết định là lược đồ
phải được bàn riêng với nhan đề
là: “Đức Mẹ Maria Mẹ Thiên Chúa và Mẹ
loài người”. Nhưng sau đó rất nhiều
ý kiến yêu cầu phải cho lược đồ
đó vào trong Hiến chế Giáo hội.
Ngày 22-4-1963 Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII truyền
cho Đức Hồng Y Quốc vụ khanh chuyển
cho các Nghị phụ lược đồ tín
lý về “ Đức Trinh Nữ Maria Mẹ Giáo
Hội”. Nội dung lược đồ này giống
lược đồ đã được trình
bày trong khoá họp I, nhưng đã đổi
nhan đề là “Đức Trinh Nữ Maria Mẹ
Giáo Hội”. Thay vì nhan đề: “Trinh Nữ Maria
Mẹ Thiên Chúa và Mẹ loài người”. Nhiều
ý kiến lại được nêu lên.
Trong khoá họp II, bắt đầu từ ngày
29-9-1963 có nhiều ý kiến xin cho lược
đồ về Đức Mẹ được
để vào trong Hiến chế về Giáo Hội
với mục đích nêu cao mối tương
quan giữa mầu nhiệm Đức Kitô và Giáo
Hội. Tuy nhiên nhiều vị vẫn muốn
cho lược đồ được để
riêng. Vấn đề trở nên sôi động
nhất trong phiên họp ngày 24-11-1963. Vì thế
hai Đức Hồng Y được chỉ
định tóm lược và trình bày ý kiến
của hai luồng tư tưởng khác nhau.
Đức Hồng Y Rufino Santos đại diện
các vị muốn cho lược đồ về
Đức Mẹ được để riêng.
Đức hồng y Kưnig đại diện
các vị muốn cho lược đồ Đức
Mẹ vào trong Hiến chế về Giáo hội.
Đức Hồng Y Kưnig khiếu nại lên
Đức Giáo Hoàng Phaolô VI. Ngày 11-10-1963 nhân dịp
diễn thuyết tại vương cung thánh đường
Liberiana, Đức Giáo Hoàng nguyện cầu rằng:
“Lạy Mẹ Maria, xin cho Giáo Hội khi định
nghĩa mình là gì, cũng nhận biết rằng
Mẹ là Mẹ, là con, là chị và là gương
mẫu tuyệt đối, cũng như là sự
vinh hiển, vui mừng và hy vọng của Giáo
Hội.” Cuộc bàn cãi vẫn tiếp tục
sôi nổi. Không phải bàn cãi về lược
đồ, mà bàn cãi có nên để riêng hay cho lược
đồ vào trong Hiến chế về Giáo Hội.
Sau cùng ngày 29-10-1963 trong phiên họp khoáng đại
thứ 57 các Nghị phụ nhận được
một bản 44 trang gồm những sửa đổi
mà các Nghị phụ đã trình bày. Và bây giờ
đến lúc bỏ phiếu Đức Hồng
Y Agarianian, người điều khiển này
chỉ có tính cách hình thức, chứ không chủ
trương hạ giá thiên chức của Đức
Mẹ, cũng không chủ tâm làm giảm bớt
lòng sùng kính của giáo dân đối với Đức
Mẹ. Vì thế những vị nào bằng lòng
cho lược đồ được để
vào Hiến chế về Giáo Hội thì xin bỏ
phiếu “Đồng ý”. Những vị nào bỏ
phiếu “Không đồng ý” tức là muốn
lược đồ phải được
để riêng.
Số các vị bỏ phiếu là 2.193. Đa số
phải có để được thông qua là
1.097. Khi bỏ phiếu có 1.114 vị đồng
ý. 1.074 vị không đồng ý và 5 phiếu không
hợp lệ. Như vậy đa số để
thành sự đã có hơn 17 phiếu. Từ đây
Ủy ban về Tín lý chịu trách nhiệm sửa
chữa sao cho hợp với bản Hiến chế
về Giáo Hội rồi đưa ra để
các Nghị phụ chấp thuận. Nhưng ngày
4-12-1963 khoá họp II kết thúc mà chưa đi
đến kết quả tích cực nào. Trong bài
diễn văn bế mạc khoá II, Đức
Giáo Hoàng Phaolô VI có nói đến vấn đề
này như sau: “Như thế là vẫn còn lại
lược đồ về Đức Mẹ.
Ta hy vọng Công đồng sẽ có quyết
định xứng hợp hơn vì mọi người
đã đồng ý và sốt sắng chấp nhận
một địa vị đặc biệt của
Mẹ Thiên Chúa trong Giáo Hội. Đó là điểm
chính mà Công đồng muốn bàn đến. Sau
Đức Kitô, Mẹ Maria là vị cao nhất
lại cũng gần ta nhất, vì thế với
tước hiệu Mẹ Giáo Hội, ta sẽ
có thể tôn trọng Người để làm
vinh danh Người và cũng để khích lệ
chúng ta”.
Khoá họp III bắt đầu từ tháng 7 năm
1964. Thực là khoá họp về Đức Mẹ.
Quả thế, trong phiên họp khoáng đại
lần thứ 81 ngày 16-9-1964 Đức cha Roy,
Tổng giám mục Québec đã phân phát cho các Nghị
phụ chương 8 Hiến chế về Giáo
Hội với nhan đề: “Đức Trinh
Nữ Maria Mẹ Thiên Chúa trong mầu nhiệm
Đức Kitô và Giáo Hội” đây là lược
đồ thứ ba với nhan đề mới,
dung hoà ý kiến của hai phe. Vị phát ngôn viên
tường trình rằng lý do khiến đưa
lược đồ về Đức Mẹ
vào trong Hiến chế về Giáo Hội vì đây
là một đề tài chính của Công đồng
và Đức Mẹ liên kết mật thiết
với Giáo Hội. Lý do dễ hiểu là vì nhiệm
vụ của Đức Mẹ bao giờ cũng
phải được hiểu trong ánh sáng của
mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể. Vì
thế lược đồ về Đức
Mẹ đã được để trong phần
cuối của Hiến chế về Giáo Hội,
và đã sửa đổi để đưa
ra một đạo lý tổng hợp về Đức
Mẹ. Và như thế Công đồng không có
ý chấm dứt những bàn cãi của các nhà thần
học về vai trò Đức Mẹ trong khoa
Kitô học hay Giáo hội học.
Lược đồ mới này gồm ba điểm
chính:
1- Theo Thánh Kinh và Thánh Truyền thì Đức Mẹ
có địa vị đặc biệt trong mầu
nhiệm Cứu độ, cùng với Đức
Kitô.
2- Có tương quan đặc biệt giữa
Đức Maria và Giáo Hội vì Đức Mẹ
đã đồng công cứu thế trong khi Người
tình nguyện chịu thai Ngôi Lời, và khi Người
dâng Con trên thập giá, và hiện nay vẫn còn
bầu cử cho ta trên trời. Và vì thế tước
hiệu “Mẹ Bầu Cử” là một trong nhiều
tước hiệu được hiểu theo
nghĩa chính thức. Đức Mẹ còn được
tuyên dương là “ Mô phạm” của Giáo Hội
vì Người là Mẹ và là gương mẫu
của giáo dân.
3- Sau cùng là các cách thực hành để rao giảng
và tôn sùng Đức Mẹ.
Theo Đức Cha Roy, đây là việc hoà hợp
hai luồng tư tưởng khác nhau để
chân lý được sáng tỏ và để nói
lên rằng Công đồng không chỉ có tính cách
tín lý.
Ngày 17-9-1964 khi cắt nghĩa chương 8 của
Hiến chế về Giáo Hội, Đức Cha
Gasbarri Giám mục phụ tá địa phận
Velletri nói: Dưới khía cạnh Kitô học,
Mẹ Maria phải được gọi là Mẹ
Giáo Hội vì là Mẹ Đức Kitô. Để
hiểu đúng về Mẹ Maria và sứ mệnh
của Người đối với Giáo Hội
và đối với nhân loại, thì cần phải
chân nhận cả hai điều trên: Mẹ Giáo
Hội, Mẹ Chúa Kitô.
Tại sao có nhiều Nghị Phụ lại không
muốn cho lược đồ Đức Mẹ
vào trong Hiến chế về Giáo Hội? Chính
vì hiện nay trong Giáo Hội có hai phong trào về
Giáo Hội tính và Kitô tính. Nhưng Chúa Thánh Thần
đã can thiệp. Việc cho lược đồ
Đức Mẹ vào trong Hiến chế về
Giáo Hội đã nói lên rõ rệt tương quan
giữa mầu nhiệm Đức Kitô và Giáo Hội,
đồng thời làm cho hai quan niệm trên thông
cảm, hiểu nhau theo ánh sáng Thánh Kinh và Thánh Truyền,
như thế rất có lợi cho đạo lý
và lòng sùng kính đối với Đức Mẹ
Maria.
Việc bàn cãi về chương 8 này đã chiếm
nhiều thời giờ trong phiên họp khoáng
đại thứ 81 vào ngày 16-9-1964. Có 14 vị
lên tiếng. Phiên họp thứ 82 ngày 17-9-1964 có
16 vị lên tiếng và phiên họp thứ 83 ngày
18-9-1964 có ba vị lên tiếng và là ba vị sau
cùng. Ủy ban lại phải sửa chữa theo
các đề nghị trên. Sau cùng đưa ra để
Công đồng bỏ phiếu chấp thuận.
Ngày 28-10-1964 đúng một năm sau khi lược
đồ về Đức Mẹ được
đưa vào trong Hiến chế về Giáo Hội
thì Công đồng đã bỏ phiếu. Tổng
số phiếu là 2.091. Có 1.559 đồng ý, 10
không đồng ý, 521 đồng ý với điều
kiện và 1 không hợp lệ.
Một ủy ban riêng lại phải xét đến
các yêu sách và điều kiện của 551 vị
kia rồi làm thành một bản chính thức sau
cùng, và được chấp thuận vào ngày
21-11-1964 có 2.156 phiếu thuận, 5 phiếu chống
và 0 phiếu bất hợp lệ.
Kết quả việc cho lược đồ
Đức Mẹ vào trong Hiến chế về
Giáo Hội đã làm cho mọi người vui
mừng. Ngày 21-11-1964, bế mạc khoá họp
III, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI quả quyết:
“ Việc này hợp chủ trương đã
chỉ định trong Công đồng, là làm nổi
bật chân tướng của Giáo Hội nơi
mà Mẹ Maria đã liên kết chặt chẽ.
Trong Giáo Hội, Mẹ Maria là thành phần cao trọng
nhất, trọn hảo nhất, đáng quý nhất
(cf. Ruperto). Thực thể của Giáo hội không
chỉ có ở nơi hàng Giáo phẩm, các nghi lễ
hay các luật lệ. Yếu tính chính cũng như
nguồn mạch sự thánh hoá phải được
tìm thấy trong mối tình hợp nhất với
Đức Kitô. Sự hợp nhất này không cho
phép ta tách rời khỏi người mẹ của
Ngôi Lời nhập thể. Chính Chúa Giêsu cũng
đã muốn hợp nhất với Đức
Mẹ để cứu chuộc chúng ta. Vì thế
việc biết một cách chân thực đạo
lý về Đức Mẹ sẽ là chìa khoá để
hiểu rõ mầu nhiệm Đức Kitô và Giáo
hội.
|
|