|
|
I. THƯA MẸ, MẸ LÀ AI?
Chúng
ta có quyền và có nhiệm vụ hỏi Mẹ
Maria câu này: “Thưa Mẹ, Mẹ là ai?”. Trước
khi tìm cách tôn kính Mẹ Maria thì chúng ta phải bận
tâm tìm hiểu Mẹ hơn. Nhưng tìm hiểu
Mẹ Maria không phải là việc dễ. Chúng
ta vấp phải một nghịch lý. Đàng khác
người thiếu nữ Do Thái ấy không giữ
một vai trò nào trong đời sống tôn giáo,
xã hội, chính trị hoặc văn hóa trong thời
đại của nàng và trong xứ sở nàng
đã sống. Không một sử gia nào nhắc
đến tên nàng. Ngoài ra, chính người thiếu
nữ ấy đã táo bạo tiên báo “mọi thế
hệ sẽ khen nàng diễm phúc”. Điều
lạ lùng nhất là lời tiên tri ấy đã
được thực hiện một cách vẻ
vang.
Từ
buổi đầu của Kitô giáo, Mẹ Maria
đã được tán dương bằng mọi
cách và trong mọi ngôn ngữ. Thế kỷ XII,
thánh Bernardo đã gọi Mẹ Maria là: “Trung tâm
thế giới, là công trình của thế kỷ”.
Thánh nhân giải nghĩa: “Mọi người
đều hướng nhìn về Mẹ, những
người ở trên trời, những người
ở dưới vực sâu, những người
đã sống trước chúng ta, những người
đang sống với chúng ta và sẽ đến
sau chúng ta, con cái của những con cái chúng ta,
và những con cái sẽ sinh ra bởi chúng. Những
người trên trời mong chờ những chỗ
trống có người ở; những người
dưới vực sâu trông mong chóng ra khỏi nơi
ấy; những người đến trước
chúng ta chờ chực những lời hứa
chóng thành tựu; và những người đến
sau chúng ta ngóng trông chóng được hiển
vinh”.
“Lạy
Mẹ Thiên Chúa, lạy Nữ hoàng vụ trụ,
lạy Nữ vương Thiên đàng, phải,
tất cả các thế hệ sẽ khen Mẹ
diễm phúc, vì Mẹ đã sinh ra cho tất cả
các thế hệ sự sống và sự hiển
vinh. Trong Mẹ, các Thiên Thần tìm được
niềm hoan lạc, các người công chính gặp
được ân sủng, các tội nhân phục
hồi ơn tha thứ, cho đến muôn đời”
(Pent 2.4).
Tuy
nhiên, nói về Mẹ Maria là điều rất
khó. Mẹ đơn giản đến nỗi
không có một cái gì đáng nói. Không một cái gì
trong kiếp phù sinh của Mẹ khêu gợi tính
tò mò của chúng ta được lâu dài. Mẹ
không phải là một nhân vật tiểu thuyết,
Mẹ càng không làm nên một luận đề
cho khoa cổ sử. Trái lại, Mẹ liên can
một cách mật thiết với mầu nhiện
Con Thiên Chúa làm người mà Mẹ không thể
chia lìa được với mầu nhiệm
này. Đối với câu hỏi: “Thưa Mẹ,
Mẹ là ai?”. Mẹ sẽ dùng lời ca vinh Magnificat
mà trả lời chúng ta thế này: “Chúa đã trông
đến sự thấp hèn tôi tá Chúa… Đấng
Toàn năng đã làm cho Mẹ những sự trọng
đại” (Lc 1.48).
Về
phương diện loài người, Mẹ Maria
không làm một sự gì có thể phân biệt Mẹ
ra khỏi các phụ nữ khác sống trong thời
Mẹ và trong mọi thời. Sự khác biệt
lớn lao đặt Mẹ Maria vào một vị
thế hoàn toàn ngoại trừ, và trên tất cả
các phụ nữ khác là vì những gì Thiên Chúa đã
làm cho Mẹ, trong Mẹ và nhờ Mẹ. Thiên
Chúa đã nhìn Mẹ với một cách nhìn khác
hẳn nơi các tạo vật khác. Trước
mọi thời gian, Thiên Chúa đã trông thấy
và đã muốn việc nhập thể của
Con Ngài; Thiên Chúa đã trông thấy và đã muốn
một người Mẹ cho Người Con mà
Ngài sẽ ban cho thế gian. Cũng một cái
nhìn ấy Thiên Chúa đã thấy Con và Mẹ. Rồi
cũng một cái nhìn và cũng một tình yêu ấy,
Thiên Chúa đã bao quát tất cả chúng ta trong
Chúa Giêsu và trong Mẹ Maria.
Mẹ
Maria không phải là ánh sáng, nhưng Mẹ hoàn toàn
trong sáng. Aùnh sáng, ánh sáng thật là Chúa Giêsu Kitô.
Ngài là ánh sáng vĩnh cửu, vô hình, tự hữu
và Mẹ Maria đã làm cho chúng ta trông thấy được
ánh sáng tự hữu ấy. Theo kinh Tiền tụng
của các lễ kính Đức Trinh Nữ Maria
thì Mẹ “đã chiếu dãi vào thế gian ánh sáng
vĩnh cửu là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con”.
Mẹ Maria trong ánh sáng, Mẹ không đặt một
ngãng trở nào cản ngăn ánh sáng; hơn nữa,
Mẹ còn cho phép chúng ta thỏa thuê thưởng
thức ánh sáng.
Người
ta có thể so sánh Mẹ Maria với một cửa
sổ kính mầu. Cửa sổ kính mầu không
phải là ánh sáng, nó khác với ánh sáng, nhưng
nó không thể chia lìa ra khỏi ánh sáng. Không có ánh
sáng thì cửa sổ kính mầu không là gì, không
có vẻ đẹp và cũng không có gì là hứng
thú. Đối với Mẹ Maria cũng thế.
Nếu chúng ta nhìn Mẹ ngoài ánh sáng của Con
Mẹ, và không đặt Mẹ vào trong viễn
tượng của sứ mệnh Thiên Chúa ký thác
cho Mẹ thì Mẹ không có gì quyến dũ được
trí lòng chúng ta. Nếu trái lại, chúng ta nhìn ngắm
Mẹ trong ánh sáng huy hoàng Mẹ chiếu giãi vào
thế gian, thì Mẹ trở nên cho chúng ta một
hứng thú phi thường. Cửa sổ kính
mầu cho phép chúng ta tha hồ nghiên cứu những
tia sáng đang chờn vờn trên mặt các kính
mầu và mầu sắc thay đổi tuỳ
theo thời gian trong ngày và độ tối của
các tia sáng.
Còn
hơn thế nữa khi nói về Mẹ Maria,
vì Mẹ là một cửa sổ kính mầu sống
động và hay thương. Mẹ hoàn toàn trinh
trong, trinh trong về trí khôn và về tâm hồn.
Nếu một nghệ sĩ, hoặc một thi
sĩ có thể dùng tài ba diễn tả lại
vẻ đẹp của tia sáng mặt trời
chiếu qua một cửa sổ kính mầu trong
một nhà thờ chính tòa thì nghệ sĩ và thi
sĩ ấy lại không tài nào vẽ lại được
sự rực rỡ của Mẹ Maria. Cửa
sổ kính mầu dầu có giá trị đến
đâu đi nữa cũng chỉ là vật bất
động. Nghệ sĩ làm nên cửa sổ
kính mầu cũng bị giới hạn, và mặt
trời không phải lúc nào cũng chiếu xuống
như nghệ sĩ mong muốn. Đối với
Mẹ Maria thì nghệ sĩ là chính Thiên Chúa, ánh
sáng là ánh sáng sống động, ánh sáng rực
cháy, tình yêu vĩnh cửu.
Trong
sách Khải Huyền, thánh Gioan nói đến một
điều lạ vĩ đại hiện ra
trên trời như sau: “Một người Nữ
mặc áo mặt trời, chân đạp mặt
trăng, đầu đội triều thiên mười
hai ngôi sao” (Kh 12.1). Đây là điềm chỉ
Giáo hội, nhiệm thể Chúa Kitô, còn đang
bị con rồng tấn công. Đây cũng là
điềm chỉ Đức Trinh Nữ Maria,
Mẹ là phụ nữ đích thực mặc
mặt trời. Mẹ là hình tượng thế
mạt của Giáo hội, nghĩa là Giáo hội
đã được hình thành, được
nhắc đến một cách bóng bảy. Ngôi
Lời Thiên Chúa, ánh sáng vĩnh cửu, bắt
đầu giãi sáng trên thế gian trong Mẹ và
nhờ Mẹ.
Vì
thế rất khó mà nói về Mẹ Maria một
cách thỏa đáng. Những từ ngữ của
chúng ta quá nghèo nàn, không diễn tả nổi ánh
sáng huy hoàng chiếu toả ra từ gương
mặt Mẹ. Đàng khác, để phác họa
ánh sáng chúng ta lại bó buộc phải dùng những
bóng tối. Người ta hiểu được
rằng chính nghi lễ cũng nhận thức
được nỗi bất lực của mình
nên đã gói gồm mầu nhiệm Mẹ Maria
trong những ngôn từ. Một đáp ca của
nghi lễ Sinh Nhật đã đọc như
sau: “Hỡi Mẹ Đồng Trinh thánh thiện
và tinh tuyền, con biết lấy lời nào để
tán tụng Mẹ? Con không biết lấy lời
nào vì Đấng mà trời đất không thể
nào chứa đựng được thì Mẹ
lại cưu mang trong lòng mình”.
Người
ta đã diễn tả nỗi khó khăn nói về
Mẹ một cách phải lẽ bằng câu ngạn
ngữ sau đây được gán cho thánh Bernardo,
nhưng thật ra không phải của ngài: “ De
Maria nunquam satis: Nói về Maria không bao giờ cùng!”
Câu ấy có nghĩa là người ta không bao giờ
thỏa mãn về những điều người
ta đã nói để tôn vinh Mẹ Maria, vì không
thể nào gói gồm trong những từ ngữ
nhân loại mầu nhiệm Ngôi Lời nhập
thể. Câu ấy cũng có nghĩa là người
ta có thể để ý đến từng phần
của mầu nhiệm rồi tìm hiểu những
phong phú tiềm ẩn bên trong, nhưng người
ta hoàn toàn bất lực không thể diễn tả
nổi tất cả chiều sâu của mầu
nhiệm.
Câu:
“De Maria nunquam satis” diễn tả lòng khát khao hiểu
biết, yêu mến và tán dương Mẹ Maria
mỗi ngày một hơn, nhưng lại có thể
hoàn toàn hiểu lầm và cuối cùng dẫn đưa
đến một sai lầm về tín lý. Một
số người lại cho rằng câu ấy
có nghĩa thế này: người ta có thể
nói về Mẹ Maria tất cả những gì
người ta muốn mà không sợ qúa thuyết.
Hãy ý tứ! Khi người ta lạc đường
thì bất kể người ta đổi chiều
về tay trái hay hướng về tay mặt.
Trong vấn đề nầy hơn mọi vấn
đề khác, khi người ta nói về Mẹ
Maria Mẹ Thiên Chúa người ta phải rất
ý tứ đến ý nghĩa của từng từ
ngữ, nghĩa là người ta phải chắc
về ý nghĩa của mọi từ ngữ theo
thần học. Tất cả những gì liên quan
đến Mẹ Maria hoặc gần hoặc
xa thì đồng thời cũng liên hệ với
Con Mẹ. Nếu người ta phóng đại
những đường nét chính của một
gương mặt, người ta sẽ làm cho
gương mặt bị dị dạng, sẽ
trở nên không nhìn ra nữa, và không mấy chốc
trở thành bức hoạt họa. Người
ta đã làm sai lạc gương mặt Mẹ
Maria thì cũng vì thế người ta sẽ
làm cho gương mặt Chúa Kitô trở nên méo
mó.
Trong
những người nói về Mẹ Maria hùng
hồn hơn hết có thánh Bernardo chiếm một
vị thế rất tốt đẹp. Tuy nhiên
ngài đã thú nhận thế này: “Chắc chắn
không một sự gì làm say mê lòng tôi và đồng
thời cũng làm cho lòng tôi khiếp sợ bằng
việc cao rao vinh quang Mẹ Đồng Trinh.
Đã hẳn, mọi người đều bước
theo Mẹ, đều tôn kính Mẹ, đều
tiếp đón Mẹ với những tâm tình mà
mỗi người sướng vui nên khi nói về
Mẹ. Nhưng, tất cả những gì người
ta nói về một điều khôn tả tai trở
nên ít hứng thú, ít khoái trá và ít đang tiếp
nhận, chỉ vì người ta không thể diễn
tả nổi” (Ass 4.5).
Phải,
khó mà nói về Mẹ Maria vì Mẹ vượt
quá mọi phạm trù của chúng ta. Nhưng đây
lại là một nhu cầu và một nhiệm
vụ đối với một người con
phải tìm hiểu Mẹ mình hơn ngõ hầu
có thể nói về Mẹ một cách bớt bất
xứng hơn. Đây là một nhiệm vụ
phải nói về Mẹ Maria, vì Mẹ rât ít được
biết đến, và rất hay bị lãng quên.
Biết bao điều người ta đã nói
hoặc đã viết về Mẹ, nhưng lại
là những điều không thật. Ngày nay hơn
bất cứ thời đại nào, người
ta chối bỏ con người của Mẹ,
Thiên chức Mẹ Thiên Chúa của Mẹ, đức
Đồng trinh của Mẹ và địa vị
của Mẹ trong Giáo hội. Tất cả những
bóng tối người ta chiếu giãi xuống
gương mặt Mẹ Maria tất nhiên làm cho
gương mặt của Chúa Kitô và gương
mặt của Giáo hội trở nên xấu dạng.
Một
vài người khác, có lòng ngay ít nhiều, nhưng
không được hướng dẫn một
cách chắc chắn, lại sợ rằng trong
khi nghiên cứu mầu nhiệm Mẹ Maria, người
ta sẽ bỏ quên hoặc nhiều hoặc ít
con người Chúa Kitô. Lo sợ như thế
chỉ là hão huyền. Một cuộc nghiên cứu
đứng đắn về nhân vị Mẹ
Maria và về sứ mạng Thiên Chúa đã ký thác
cho Mẹ bao giờ cũng đưa đến
chỗ làm sáng tỏ mầu nhiệm Ngôi Lời
Nhập Thể. Nói ngược lại, người
ta càng suy ngắm Chúa Kitô, người ta càng tìm
ra cái tầm mức quan trọng mà Thiên Chúa đã
ban cho Mẹ Maria trong việc hiện thực
biến cố lạ lùng ấy.
Thật
là vô ích nếu chúng ta tự hỏi có nên dành cho
Mẹ Maria một địa vị nhỏ hoặc
lớn trong đời sống chúng ta không. Chúng
ta không có nhiệm vụ dành cho Mẹ một địa
vị, chính Thiên Chúa đã tự giữ cho mình
nhiệm vụ này, và Chúa thi hành mọi sự
với đức khôn ngoan và tình yêu. Chúng ta có thể
hoàn toàn tín nhiệm vào Thiên Chúa. Chúng ta chỉ phải
tìm hiểu xem Chúa đã ban cho Mẹ một địa
vị nào trong Giáo hội. Lúc ấy chúng ta sẽ
thán phục mà chấp nhận những gì Thiên
Chúa đã làm; chúng ta sẽ dành cho Mẹ, trong đời
sống của chúng ta, tất cả địa
vị mà Thiên Chúa đã ban cho Mẹ.
Thật
ra, Thiên Chúa không cần đến Mẹ Maria để
ban Con mình cho thế gian. Thiên Chúa không cần một
ai, không cần Mẹ Maria, và cũng không cần
bất cứ một ai khác. Chúng ta chắc chắn
điều này là: “chính tình yêu qúa độ Thiên
Chúa đã yêu thương chúng ta” (Eph 2.4), tình yêu
ấy đã thúc đẩy Thiên Chúa tuyển chọn
Mẹ Maria. Đây là quyền của Thiên Chúa,
và chúng ta không có quyền cật vấn tại
sao Thiên Chúa lại hành động như thế.
Bác
bỏ mầu nhiệm Mẹ Maria là làm lăng
nhục cho đức khôn ngoan và lòng nhân hậu
Thiên Chúa, là từ chối không muốn bước
vào hoàn toàn trong kế hoạch Thiên Chúa và nghi ngờ
tình yêu mênh mông của Chúa.
Người
ta gọi Mẹ Maria là Rạng Đông, điều
ấy đúng. Tất cả vẻ đẹp
của rạng đông đều phát xuất
từ mặt trời mà người ta chưa
trông thấy, nhưng người ta đã trông
thấy những tia sáng tác phúc. Không mặt trời,
rạng đông sẽ không có vẻ huy hoàng; không
Chúa Kitô, Mẹ Maria sẽ không có ánh sáng.
Người
ta còn gọi Mẹ Maria là Sao Mai. Biệt hiệu
thi vị này chứa đựng một thực
tại cao siêu. Tinh tú mà chúng ta gọi là sao mai chỉ
là một hành tinh tự mình không có sức nóng,
mà cũng không có ánh sáng. Vì sao mai sáng nên người
cổ thời gọi là sao Lucife, nghĩa là sao
mang ánh sáng. Sau đấy, người ta gọi
là sao Vệ nữ (Venus) vì vẻ đẹp của
nó. Tất cả vẻ đẹp của sao mai
đều xuất phát từ khả năng tiếp
nhận ánh sáng mặt trời rồi chiếu
giãi xuống trái đất chúng ta.
Sao
mai luôn luôn ở gần mặt trời hơn
trái đất chúng ta. Chúng ta có thể trông thấy
nó vào buổi sáng khi hừng đông ló rạng,
hoặc buổi chiều khi hoàng hôn đổ
xuống. Bao giờ sao mai cũng báo hiểu sự
hiện diện của mặt trời mà xung quanh
mặt trời sao mai vẫn xoay vần. Khi trời
bắt đầu sáng, sao mai báo trước mặt
trời sắp mọc mặc dầu ta chưa
trông thấy mặt trời. Khi sao mai xuất
hiện ban chiều thì lại có tên là sao hôm, sao
mục tử. Nó cho người mục tử
coi giữ đàn súc vật biết rằng đã
đến lúc phải về nhà để nghỉ
đêm. Sao hôm cũng chứng tỏ rằng mặt
trời đã khuất khỏi mắt chúng ta nhưng
vẫn còn chiếu sáng.
Trong
vũ trụ thiêng liêng của chúng ta, Mẹ Maria
là sao mai báo trước Chúa Kitô đích thật
hiện diện, mặc dầu chúng ta chưa
trông thấy Ngài. Mẹ cũng là ngôi sao hôm, ngôi
sao mục tử sáng chói trên bầu trời khi
màn đêm tăm tối bao phủ xuống chúng
ta, khi những thử thách dằn vặt chúng
ta, và khi mối nghi ngờ cản trở chúng
ta. Mẹ Maria là mẹ của mục tử chân
chính, của mục tử nhân hậu thí mạng
sống mình vì đàn chiên. Mẹ là dấu chỉ
hy vọng, là tang chứng cho sự hiện diện
và sự rạng ngời của Con Mẹ là mặt
trời công chính. Vũ trụ chúng ta sẽ ra
sao nếu không có tinh tú? Đời chúng ta sẽ
ra sao nếu không có Mẹ Maria.
Chúng
ta đừng sợ mà hỏi Mẹ Maria câu này:
“Thưa Mẹ, Mẹ là ai? Mẹ là ai đối
với Thiên Chúa? Mẹ là ai đối với
Chúa Kitô? Mẹ là ai đối với chúng con?
Chúng ta sẽ có được câu trả lời
khi tìm kiếm trong Thánh Kinh, trong Cựu và Tân Ước,
trong giáo thuyết của Giáo hội, và trong lễ
nghi. Chúng ta cũng sẽ tìm được câu
trả lời trong thâm tâm chúng ta. Chính Mẹ Maria
sẽ dạy chúng ta biết Mẹ là ai đối
với Chúa Kitô và đối với chúng ta. Thánh
Gioan đã viết cho các giáo hữu tiên khởi
như sau: “Ơn xức dầu anh em nhận được
bời Ngài (Chúa Kitô) sẽ dạy dỗ anh em
mọi sự” (1Jn 2.27). Dầu là sự hiện
diện của Chúa Thánh Thần mà chúng ta đã
lãnh nhận khi chịu phép Rửa tội, và chính
Thánh Thần ấy “hướng dẫn chúng ta
đến chân lý toàn vẹn” (Jn 16.13).
Mẹ
Maria là người đã sinh ra Chúa Giêsu gọi
là Kitô (Mt 1.16). Chúa Giêsu là “Con duy nhất Thiên Chúa,
sinh bởi Chúa Cha từ trước muôn đời;
Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, ánh sáng bởi ánh sáng,
Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật” (Kinh Tin
Kính) Thiên Chúa ấy sinh ra bởi Thiên Chúa đồng
thời cũng sinh ra bởi một người
nữ, người nữ đó là Mẹ Đồng
Trinh Maria. Mẹ đúng là một phụ nữ
tuyệt diệu, rất gần gũi Thiên Chúa,
nhưng cũng rất gần gũi chúng ta. Mẹ
là sự khoan thứ kỳ diệu của Thiên
Chúa, và số mệnh Mẹ là số mệnh khôn
sánh của một phụ nữ thuộc nòi giống
chúng ta.
|
|