|
IV. TIẾN ĐẾN THỜI GIAN VIÊN MÃN
Vua
Salomon xin Thiên Chúa ban cho vua “một tấm lòng biết
lắng nghe” (1V 3.9). Chúa đã ban cho vua, và còn ban
thêm vinh hiển giàu sang và thế lực nữa.
Người ta tưởng rằng lời giao
ước Thiên Chúa sẽ trở nên bền vững
trong một triều đại lâu dài, thánh thiện
và cường thịnh, và Giêrusalem sẽ trở
nên trung tâm thế giới. Nhưng câu chuyện
không thế. Salomon đã làm nô lệ cho khoái lạc
và cho tham vọng; nhà vua cho xây nhiều chùa chiền
thờ những thần ngoại đạo và
bỏ quên Thiên Chúa chân thật.
Sau khi Salomon băng hà chỉ còn hai bộ tộc
trung thành với con vua là thái tử Roboam; mười
bộ tộc kia ly khai với Roboam. Thiên Chúa không
bỏ rơi những dân tộc ly khai ấy,
Ngài sai các tiên tri đến để hối thúc
họ lựa chọn hoặc là Thiên Chúa hoặc
là thần Baal.
Quãng năm 800 trước kỷ nguyên, người
ta thấy Elia người miền Tesbita đến.
“Lúc ấy Elia đột nhiên xuất hiện,
ông là tiên tri lửa; lời ông cháy sáng như đuốc”
(Si 48.1). Oâng dám quả quyết rằng: “Những
năm tới đây không có sương và cũng
không có mưa, nếu không có lệnh của tôi”
(1V 17.1). Hạn hán và nạn đói kéo dài trong ba
năm sáu tháng, rồi tiên tri Elia lên núi Carmelo. Oâng
đọc kinh, trán phủ phục sát đất.
Oâng bảo đầy tớ: “Hãy lên núi và nhìn về
hướng biển!” Lúc đầu người
đầy tớ không trông thấy gì, nhưng
sau bảy lần lên núi anh ta nói: “Này đây có một
đám mây to bằng bàn tay đang kéo lên từ
phía biển!” (1V 18.43). Elia nhận ra trong đám
mây nhỏ ấy dấu chỉ Thiên Chúa can thiệp
để nâng đỡ dân Ngài. Bầu trời
không mấy chốc mây đen phủ kín, và cơn
mưa tầm tã ập xuống. Các Gíao phụ
nhậ ra trong đám mây nhỏ trên núi Carmelo hình
ảnh Mẹ Maria. Xét về phương diện
nhân loại, Mẹ rất yếu đuối,
nhưng Mẹ lại là điềm báo nhưng
ơn trạch lớn lao.
Quãng năm 740 (trước Chúa Kitô), tiên tri Oâsea
được sai đến với các bộ
lạc ly khai. Tiên tri là người thứ nhất
nhấn mạnh đến đặc tính hôn nhân
trong giao ước Thiên Chúa đã ký kết với
dân Ngài. Tiên tri sống trong một thời đại
bất công và tham nhũng. Tiên tri kể lại
những khốn khổ đời hôn nhân của
ông như là một thí dụ sống động.
Thiên Chúa yêu thương dân Ngài cả khi họ
bất trung bất tín; để đem dân trở
lại với mình, nhiều lần Thiên Chúa đã
đi những bước đầu. Lời
Osea nói đặt vào miệng Thiên Chúa đã vượt
xa hoàn cảnh trong ấy lời tiên tri đã được
nói lên: “Ta sẽ đặt ngươi làm bạn
trăm năm của ta cho đến muôn đời,
làm bạn trăm năm trong công trình và luật
pháp, trong ân sủng và yêu thương” (Os 2.16).
Đây lại là một giao ước mới,
Thiên Chúa sẽ đến thành hôn với bản
tính nhân loại chúng ta trong cung lòng Mẹ Đồng
Trinh Maria.
Luận đề giao ước hôn nhân ấy
là ý tưởng của cuốn sách tuyệt vời
và huyền diệu là cuốn Diệu Ca. Ví dụ:
“Kìa bà nào đang tiến lên như rạng đông,
đẹp như mặt trăng, rực rỡ
như mặt trời, oai hùng như đạo
binh xếp hàng vào trận?” (Dc 6.10).
Thánh vịnh 44 là một bài thơ chúc hôn tuyệt
hay chỉ có thể áp dụng một cách đầy
đủ vào Chúa Giêsu Kitô và vào Mẹ Vô Nhiễm
của Chúa: “Ngài xin đẹp vô song giữa đám
người phàm… Hỡi Thiên Chúa, ngai của Ngài,
ngai thiên niên vạn đại… Đứng bên
hữu Thiên Chúa, hoàng hậu trang điểm vàng
ròng,… vô cùng lộng lẫy” (Tv 44.3,7,10).
Vị tiên tri tuyệt hảo trong thời trông
đợi Đấng Thiên Sai là Isaia. Tiên tri thi
hành sứ mạng vào quãng năm 720 trước
kỷ nguyên; lời ông nói là một bài ca chứa
chan hy vọng. Không chán nản, Isaia nhắc lai
cho người quyền quý và kẻ hèn mọn
biết Thiên Chúa thánh thiện; tiên tri nhấn mạnh
đến uy lực Thiên Chúa có thể cứu
dân Ngài ra khỏi những hiểm nguy tồi tệ
nhất nếu người ta thật lòng cầu
khẩn Thiên Chúa. Oâng loan báo Thiên Chúa sẽ can thiệp
vào mặc dầu ác ý của con người: Thiên
Chúa sẽ đến ở giữa chúng ta, Emmanuel,
Thiên Chúa ở cùng chúng ta.
Môi trường hoạt động của Isaia
là thành đô Giêrusalem. Thánh đô ấy đã bị
vua xứ Israel liên kết với vua xứ Aram
tấn công. Thiên Chúa sai tiên tri Isaia đến với
Achaz là vua nước Giuđa để báo cho
ông biết ông không có gì phải sợ nếu ông
tín thác vào Thiên Chúa các Tổ phụ. Vua Achaz từ
chối, vua tin cậy những giao ước
và những thần của riêng ông. Mặc dầu
vua Achaz tỏ ra hiển nhiên ác ý, nhưng Thiên
Chúa lại sai tiên tri Isaia đến báo cho nhà vua
lần nưã rằng: “ Vua hãy xin với Giavê,
Thiên Chúa của vua, một dấu chỉ, dấu
nơi vực sâu âm phủ, hay là nơi cao vời
trên trời” (Is 7.10).
Vua Achaz từ chối dứt khoát: “Tôi sẽ không
xin một dấu nào”. Isaia liền nói với tất
cả hoàng tộc Đavít như sau: “Hỡi nhà
Đavít hãy nghe đây! Các ngươi tỏ ra
quá quắt với người ta còn cho là chưa
đủ hay sao, mà các ngươi còn muốn làm
phiền lòng cả Thiên Chúa nữa? Vì thế chính
Thiên Chúa sẽ cho các ngươi một dấu
này: Một Trinh nữ sẽ thụ thai và sinh
con, và bà sẽ gọi tên con là Emmanuel” (Is 7.12-14).
Từ
ngữ “vì thế” cho ta một ý niệm về
tình yêu vô cùng của Thiên Chúa trước ác ý của
con người. Con người từ chối
những tặng ân của Thiên Chúa ư? Ngài lại
ban dư thừa tặng ân khác. Lời hứa
ban Đấng Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở
cùng chúng tôi, không phải là một ân thưởng,
cũng không phải là tiếng trả lời
cho lời kêu gọi, đây là một tặng
ân nhưng không. Đứa trẻ sinh ra sẽ
giống với tên gọi đã được
báo trước, sẽ đích thực là Thiên Chúa
ở cùng chúng tôi. Đứa trẻ ấy là Chúa
Giêsu Kitô, người đàn bà sẽ sinh ra đứa
trẻ ấy là Mẹ Đồng Trinh Maria.
Nếu hiểu rằng lời tiên tri cao cả
của Isaia chỉ loan báo một đứa trẻ
tầm thường sinh ra mà người mẹ
đặt tên cho là Emmanuel, tức là coi một
lời tiên tri rất quan trọng chỉ là một
lời tầm thường vô nghĩa. Hiểu
như thế là không hiểu gì hoàn cảnh bi đát
của Giêrusalem bấy giờ, và quên mất hành
động của Chúa Thánh Linh. Cũng nên lưu
ý đến điều này là tiên tri chỉ nhắc
đến một trinh nữ và một đấng
Emmanuel, chứ không hề nhắc đến một
nhân vật khác có thể là cha của đấng
Emmanuel. Trong đoạn Thánh Kinh này cũng như
trong tất cả các đoạn khác có liên hệ
đến Đấng Thiên Sai sẽ đến,
Kinh Thánh không hề đề cập đến
một vị vua mà triều đaị không bị
giới hạn trong không gian hoặc trong thời
gian. Người phụ nữ sẽ sinh ra Đấng
Thiên Sai không hề được giới thiệu
như bạn trăm năm của một người
đàn ông nào đấy, vì vị vua được
nhắc đến sinh ra sau mẹ mình.
Tiên tri Michêa, đồng thời với tiên tri
Isaia loan báo Giêrusalem sẽ bị tàn phá và Chúa Kitô
sẽ sinh ra bởi Mẹ Ngài:
“Phần ngươi, hỡi Bethlem Ephrata nhỏ
bé nhất trong các bộ tộc Giuđa. Chính tự
nơi ngươi sẽ xuất hiện cho Ta
vị sẽ làm vua nước Israel. Nguồn
gốc của Ngài lên trước xa, lên đến
những ngày thủa xưa. Cho nên Thiên Chúa sẽ
bỏ rơi dân Ngài cho đến ngày người
nữ phải sinh sẽ sinh con” (Mi 5.1).
Tháng năm qua đi, dân Dothái hồi cư, đền
thờ lại được tái thiết (năm
515 trước Chúa Giêsu).
Người ta lại khao khát Đấng Thiên
Sai đến. Sau cuộc lưu đầy, Thiên
Chúa sai các tiên tri đến để duy trì niềm
hy vọng và phấn khởi lòng can đảm.
Tiên tri Zacharia viết: “Hãy nhiệt liệt nhảy
mừng, hỡi thiếu nữ Sion! Hãy reo hò lên,
hỡi thiếu nữ Giêrusalem! Này vua ngươi
ngự đến với ngươi, Ngài chính
trực và chiến thắng, khiêm nhường
và cỡi trên một con lừa” (Za 9.9).
Tiên tri Malachia xác định thêm: “ Này Ta sai sứ
gỉa Ta vén đường vạch lối trước
thánh nhan Ta. Thình lình sẽ đến trong đền
thờ của Ngài vì Chúa Tể mà các người
tìm kiếm vị sứ giả giao ước
mà các ngươi ao ước. Ai chịu đựng
nổi ngày Ngài đến? Ai đứng vững
được khi Ngài xuất hiện?” (Ml 3.1-3).
Vị sứ giả sửa chữa lại đường
lối, như chúng ta biết, là thánh Gioan Tẩy
Giả. Vị Chúa Tể sẽ đến, vị
sứ gỉa ao ước, là Chúa Kitô. Tiên tri Malachia
đặt ra một câu hỏi mà không tìm được
câu trả lời: “Ai chịu đựng nổi
ngày Ngài đến? Ai đứng vững được
khi Ngài xuất hiện?”. Câu trả lời này
quá rõ ràng đối với chúng ta ngày nay. Đấy
là một phụ nữ ở giữa chúng ta, Mẹ
Đồng Trinh Maria, Mẹ đã đứng
đối diện với Thiên Chúa hằng sống,
đối diện với “Đấng đến
như ngọn lửa của người thợ
đúc” (Ml 3.3), Mẹ Maria, trong đức khiêm
nhường của Mẹ, đã không sợ đối
thoại với Đấng “tinh luyện bạc”
và tiếp nhận Đấng ấy trong cung lòng
Mẹ.
Tiên tri Malachia nói: “Thình lình sẽ đến trong
đền thờ của Ngài”, như thể việc
Đấng Thiên Sai đến sắp xảy ra.
Nhiều thế kỷ đã qua đi trước
khi lời tiên tri được thực hiện.
Cách xử trí của Thiên Chúa không phải là cách
đối xử của chúng ta. Trong các lời
tiên tri, điều quan hệ là khuynh hướng
luôn luôn nhìn về một chung cuộc, nhìn về
một viên mãn. Tất cả đều hướng
về một giao ước mới mẻ và vĩnh
cửu. Cả bộ Cựu Ước đều
chứa đầy những lời hứa hẹn
hình như không bao giờ được thực
hiện một cách đầy đủ. Nếu
không có Tân Ước thì Cựu Ước chỉ
còn là những lời nói khó hiểu. Tân Ước
cũng thế, phải nhờ Cựu Ước
mới có ý nghĩa, và mới có tất cả
sự phong phú.
Không một ai có thể tóm lược một
cách đầy đủ như thánh Phaolo đã
nối kết Cựu Ước với Tân Ước
để chỉ có một bộ Thánh Kinh. Thánh
nhân viết cho giáo hữu Galata như sau: “ Khi
thời gian viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con Ngài, sinh
bời người nữ, sinh dướt chế
độ lề Luật, để cứu chuộc
những kẻ ở dưới quyền Luật,
ngõ hầu chúng ta được chịu lấy
quyền nghiã tử. Mà vì anh em là con cái thực
sự nên Thiên Chúa đã sai Thần Khí Con Ngài ngự
vào lòng anh em, và Thần Khí ấy kêu lên: Abba, Lạy
Cha! Cho nên anh em không còn là nô lệ nữa, nhưng
là con, mà nếu đã là con thì cũng là kẻ
thừa tự thể theo thánh ý Thiên Chúa” (Ga 4.4).
Tất cả lời giao ước cổ xưa
đều hướng đến sự viên mãn.
Thiên Chúa bao giờ cũng chủ động.
Chính Thiên Chúa sai Con Một mình đến trong thế
gian để ký một giao ước thân mật
hơn và bền vững hơn. Ngài muốn Con
mình sinh ra bởi một người nữ như
một con trẻ nhân loại, ngõ hầu Con mình
trở nên một trong số những trẻ em,
và có thể làm cho loài người thừa hưởng
sự sung mãn của Con mình. Thánh Gioan quả quyết:
“Phải, tất cả chúng ta đã nhận được
từ sự sung mãn của Ngài hết ơn này
đến ơn khác” (Jn 1.16). Tân Ước không
huỷ bỏ Cựu Ước, nhưng đã
kiện toàn Cựu Ước cách hoàn hảo.
Sự
viên mãn đem đến bởi việc Nhập
Thể là một sự trưởng thành, chứ
không phải là một cái gì qua đi. Đây là
một đời sống hoàn toàn mới chảy
ra từ lòng Thiên Chúa trên thế giới chúng ta,
chính là đời sống Thiên Chúa. Những lời
đã hứa cùng Đavít đã được
hoàn thành một cách đầy đủ. Đối
với Thiên Chúa thì không có sự gì chấm dứt,
mọi cái đều bắt đầu.
|