|
IX.
MAGNIFICAT
Khi
thưa với Thiên Chúa lời xin vâng, một lời
xin vâng vô điều kiện, để Thiên Chúa
có thể thực hiện trong Mẹ tất cả
những dự tính của Ngài, Mẹ đã phải
dấn thân cùng với tương lai của Mẹ,
và đồng thời cùng với tương lai
của thánh Giuse nữa. Thánh Giuse đã dấn
thân phục vụ Thiên Chúa do lời xin vâng của
Mẹ Maria. Chắc hẳn thánh Giuse đã đảm
nhận một cách tự do và mến yêu nhiệm
vụ tôi tớ ấy. Thánh nhân đã hiến
dâng bạn mình để bạn mình thuộc trọn
về Chúa, và cùng với bạn mình thánh nhân cũng
tự hiến dâng mình cho Chúa. Chúa không thể phân
ly những ai Ngài đã phối hợp.
Khi
nào và cách nào thánh Giuse đã đồng ý để
Mẹ Maria theo ơn kêu gọi riêng của Mẹ,
và để đón nhận tất cả những
hậu quả của sự đồng ý này?
Chúng ta không được biết. Thánh Luca rất
hiểu biết vấn đề, nhưng ngài
không nói lấy nửa lời. Vậy phải
kết luận rằng hai Đấng đã được
tự do lựa chọn một cách chân thành và
riêng tư; mặc dầu chúng ta đoán được
rằng sự lựa chọn ấy mang lại
cho Mẹ Maria cũng như cho thánh Giuse những
do dự và đau khổ.
Thánh
Matthêu không đề cập đến biến
cố Truyền tin. Thánh sử chỉ nhắc
lại những lời Thiên Chúa đã hứa cũng
Đavít và dòng dõi ông. Thánh Giuse, con vua Đavít, thưộc
thế hệ cuối cùng trong “gia phả Chúa Giêsu
Kitô cũng là con vua Đavít và con Abraham”, phải
đứng trước một vấn đề
rất đặc biệt là Mẹ Maria, bạn
trăm năm của mình “đã thụ thai bởi
phép Chúa Thánh Thần” (Mt 1.18). Phải chăng thánh
nhân phải từ bỏ bạn? Trong khi thánh nhân
nghĩ đến chuyện chia ly thì thiên thần
Thiên Chúa chắc hẳn là thiên thần Gabriel, đến
mặc khải mầu nhiệm cho ngài, và cũng
cho ngài biết ơn thiên triệu riêng của
ngài.
Thiên
thần đã báo tin ấy cho thánh Giuse vào lúc nào?
Thánh Matthêu không để lại chị tiết
nào xác định thời gian. Không có gì ngăn
cản chúng ta đặt việc thiên thần
thăm viếng thánh Giuse trong liên quan tới việc
thăm viếng Mẹ Maria. Điều này có liên
hệ đến cùng một mầu nhiệm,
mầu nhiệm Thiên Chúa ban Con Ngài cho thế gian.
Sau
khi nói: “Rồi thiên thần từ biệt bà”,
thánh Luca còn thêm chi tiết này: “Trong những ngày
ấy, Maria chỗi dậy, vội vã ra đi
đến miền núi, đến một thành
thuộc xứ Giuda” (Lc 1.39). Không phải Mẹ
Maria chỉ đon đả trong lúc khởi sự
cuộc hành trình, vì những từ ngữ “trong
những ngày ấy” có một nghĩa ít chính xác.
Thánh Luca chỉ muốn nhấn mạnh rằng
trên độ đường đi Mẹ không
mất thì giờ đi thăm hỏi nơi nọ
nơi kia. Mẹ đi rất vội vã đến
nhà bà Elizabeth.
Người
ta cho rằng thánh Giuse cũng biết Mẹ Maria
đi thăm bà chị họ của Mẹ, và
cũng biết được cả lý do cuộc
thăm viếng. Thánh Luca không nói gì đến
tâm tình của Mẹ sau buổi đàm thoại
với thiên thần Gabriel, và cũng không nói gì
đến phản ứng của thánh Giuse khi
ngài biết được mầu nhiệm vừa
mới hoàn thành. Phúc Âm thánh Luca cũng không có một
chi tiết nào mâu thuẫn với việc thánh
Giuse đã biết tin ngay từ lúc ấy, và vì
thế, trước đây đã bị thúc đẩy
lựa chọn trong đau khổ.
Khi
nói lên lời Fiat, Mẹ Maria hớn hở và mừng
vui vì yêu đương, vì được tiếp
xúc với tình yêu thần linh đang chảy vào
tâm hồn và cung lòng Mẹ. Mẹ trở nên hoàn
toàn sáng láng nhờ chính ánh sáng Thiên Chúa. Ngôi Lời
ánh sang và sự sống, đang ở trong Mẹ.
Chúa Cha và Chúa Thánh Thần đang hoạt động
trong thẳm cung con người Mẹ. Mẹ
là một thụ tạo dòn mỏng, nhưng làm
sao Mẹ không chết đi được trước
một uy quyền tôn nghiêm, trước một
vẻ xinh đẹp tuyệt mỹ và trước
tình yêu cao cả đang chảy tràn vào Mẹ?
Thánh
Bernardo trả lời:
“Ai
hiểu được thì hãy hiểu! Ai hiểu
được đây? Dĩ nhiên, chỉ có Mẹ
hiểu được, vì Mẹ đã được
diễm phúc kinh nghiệm trong chính bản thân mình,
Mẹ có thể nhờ trí khôn, và nhờ lý trí
mà hiểu được làm sao ánh sáng rực
rỡ cao siêu ấy chảy vào lòng đồng
trinh Mẹ rồi lấy một miếng thịt
rất nhỏ trong thân xác Mẹ ẩn mình trong
ấy, rồi làm cho miếng thịt đó được
hồn sống, lại biến miếng thịt
thành một tấm màn che phủ thân thể để
Mẹ có thể chịu đựng được
Đấng Cao siêu đến trong lòng Mẹ. (Mis.
4.4).
Viêc
Nhập Thể là sự Thiên Chúa tỏ mình ra còn
quan trọng hơn việc Chúa tỏ mình ra trên
núi Sinai. Nếu Maisen, sau khi gặp Thiên Chúa ở
trên núi xuống, phải lấy khăn che mặt
vì ánh sáng toả ra từ mặt ông quá sáng chói,
thì mặt Mẹ cũng sáng chói đến thế
nào trong ngày Ngôi Lời nhập thể? Làm sao trí
lòng thánh Giuse không bấn loạn lên được
khi trông thấy Mẹ vừa đàm thoại xong
với thiên thần? Mẹ mang Thiên Chúa trong lòng
Mẹ.
Mẹ
nói ra hết câu chuyện hay Mẹ giữ im lặng
thì thánh Giuse cũng vẫn đau khổ. Nói theo
các Giáo phụ, thánh Bernardo cho rằng thánh Giuse
lúng túng và lưỡng lự không muốn nhận
Mẹ Maria vì ngài linh cảm thấy mình không xứng
đáng chung sống với Đấng đã được
Thiên Chúa dành riêng cho Ngài. Nếu Mẹ cho thánh Giuse
biết thiên thần Gabriel đã thăm viếng
Mẹ, thì ngài lại càng bối rối hơn.
Ngài phải xử trí sao đây trước việc
Thiên Chúa chiếm đoạt Mẹ, Mẹ đã
là tất cả hạnh phúc của thánh Giuse và
ngài hết dạ yêu mến Mẹ.
Về
phía Mẹ Maria, Mẹ cũng đau khổ khi
thấy thánh Giuse phải khổ đau. Mẹ
không thể làm được gì cho ngài; Mẹ
không thể khuyên bảo ngài được cách
nào. Mẹ sẽ ra sao nếu không có ngài? Và ngài
cũng sẽ ra sao nếu vắng bóng Mẹ?
Thiên Chúa vẫn im lặng. Thánh Giuse vui mừng
khôn tả khi nghĩ rằng sau cũng những
lời hứa về Đấng Thiên Sai sẽ
được thực hiện; nhưng lúc này
đây, ngài phải đau khổ da diết trước
những hy sinh xả kỷ thấm thía.
Thánh
Giuse cho rằng phải giã từ Mẹ Maria; ngài
thấy mình không có quyền lấy tên mình đặt
cho con trẻ, và để người đời
lầm tưởng rằng mình là cha của con
trẻ. Thật ra, ngài nghĩ đến chuyện
thôi chung sống với Mẹ Maria. Chính lúc ấy
thiên thần Chúa hiện ra với ngài trong giấc
mộng và trấn an ngài. Thiên thần cắt nghĩa
cho ngài những truyện đã xảy ra, và ngài
biết phải có thái độ nào đối
với Mẹ Maria và con trẻ.
Bấy
giờ thánh Giuse thừa nhận bạn mình, ngài
lãnh nhận bạn mình làm bạn đời, và
tiếp đón bạn mình với sự việc
đã rồi, nghĩa là đã thụ thai bởi
phép Chúa Thánh Thần. Thánh Giuse hoàn toàn nhận lấy
trách nhiệm về Mẹ và Con. Trước kia
thánh Giuse và Mẹ Maria đã yêu nhau thắm thiết,
thì giờ đây tình yêu của hai Đấng
là một thứ tình yêu không giới mức nhờ
sự hiện diện của Con Trẻ huyền
bí mà tên gọi đã được thiên thần
mặc khải riêng cho từng người.
Lúc
này đây mọi sự đều rõ ràng minh bạch,
hai Đấng được hoàn toàn tâm đồng
ý hợp, và niềm hân hoan của hai Đấng
không vấn vương một tí gì là sầu đau.
Mẹ có thể được tự do hoàn toàn
đi thăm bà chị họ Elizabeth; trong tâm hồn
Mẹ, Mẹ đã có thể hát lên ca vịnh
Magnificat của Mẹ. Mẹ đon đả
bước trên đường, vì lúc này hơn
lúc nào hết Mẹ được thúc đẩy
bởi Chúa Thánh Thần. Không phải vì Mẹ
muốn giúp đỡ bà chị họ mà Mẹ
vội vã bước đi, nhưng chính vì Mẹ
được Chúa Thánh Thần thúc đẩy.
Mẹ
Maria đã xưng mình là nô lệ Thiên Chúa, bây giờ
Mẹ đem ra thực hành thân phận nô lệ
của Mẹ. Mẹ không còn chỉ huy nữa,
Mẹ chỉ còn biết tuân phục Thiên Chúa mà
Mẹ đang mang trong lòng. Biến có thăm viếng
có một ý nghĩa khác hơn là cuộc gặp
gỡ giữa hai phụ nữ chúc mừng nhau
vì cả hai đều sắp làm mẹ. Chúa Cứu
Thế lên đường; Mẹ Maria thực
sự đã trở nên hòm bia giao ước; Con
Thiên Chúa ngự trong Mẹ, Ngài sắp mở đầu
sứ mạng thánh hoá.
Biến
cố thăm viếng là việc Con Thiên Chúa tỏ
mình ra lần đầu tiên trong cung lòng Mẹ
Đồng Trinh. Mẹ Maria đã âm thầm thờ
lạy Chúa, bây giờ đến lượt thánh
Gioan Tẩy Giả nhảy mừng, rồi bà
Elizabeth hớn hở mừng vui. Đã hẳn,
sự hiện diện của Mẹ Maria không
cần thiết để làm cho con nhảy mừng
và làm cho mẹ được thần cảm.
Ngôi Lời nhập thể ở mãi tận Nazareth,
không cần phải có ai hiện diện, có thể
gây nên sự vui mừng lớn lao này. Ngài đã
muốn Mẹ Ngài đến nhà bà Elizabeth để
Ngài hoạt động và tỏ mình ra. Mẹ
Maria là dấu chỉ một sự hiện diện
vô hình, quyền năng và yêu mến.
Thánh
sử không nói gì đến cuộc hành trình ba
ngày đàng của Mẹ. Mẹ bước vào
nhà ông Zacharia và chào bà chị họ. Vừa nghe
lời bà chao “Shalom”, “Bằng an cho chị”, thì
bà Elizabeth được đầy Chúa Thánh Thần
và con trong lòng bà nhảy mừng. Thánh Luca xác định
như sau: “Elizabeth thoạt nghe lời Maria chào,
con trong lòng bà liền nhảy mừng. Elizabeth
được tràn đầy Thánh Thần liền
kêu lên và nói: em thật có phúc hơn mọi người
nữ, và con lòng em được chúc phúc” (Lc1.41).
Được
soi sáng bởi thần trí tiên tri, bà Elizabeth nhận
ra Mẹ Maria là Mẹ Thiên Chúa: “Bởi đâu
tôi được Mẹ Thiên Chúa đến viếng
thăm tôi?”. Bà cho biết khi nghe tiếng Mẹ
Maria chào thì con trong lòng bà nhảy mừng. Rồi
bà kết luận: “Phúc cho người là kẻ
đã tin rằng những lời Thiên Chúa đã
phán hứa sẽ được thực hiện”
(Lc 1.42).
Mẹ
Maria không nói đến nguyên cớ đã khiến
Mẹ đi thăm bà Elizabeth, nhưng bà cũng
biết được tất cả những
việc xảy ra ở Nazareth. Mẹ rất vui
mừng khi thấy bà chị họ biết được
những gì Mẹ đã chấp nhận do lời
Mẹ thưa Fiat. Mẹ không ngờ Mẹ được
tiếp đón như thế; Mẹ không biết
trước được rằng lần thăm
viếng này lại đem đến một niềm
hân hoan to tát đến thế. Vì thế, từ
lòng Mẹ phát khởi lên một bài ca biết
ơn: ca vịnh Magnificat.
Bà
Elizabeth chúc mừng Mẹ vì đã tin tưởng
vào Thiên Chúa khi Mẹ lấy làm quan trọng những
lời thiên thần nói. Mẹ Maria trả lời,
Mẹ không cám ơn bà Elizabeth vì đã tiếp
đón Mẹ, nhưng Mẹ xác nhận hành động
cứu chuộc của Thiên Chúa trên thế giới,
và Mẹ ca tụng Thiên Chúa vì đã thực hiện
các lời hứa. Ca vịnh Magnificat là một
bài ca tạ ơn hay nhất phát xuất từ
miệng lưỡi một con người. Bài
ca có thi hứng đắm say nhất và thi vị
nhất; bài ca được xây dựng tài tình
nhất, giàu sắc thái và âm điệu nhất.
Thiết tưởng không có một bài ca nào lại
có một luồng sinh khí tiên tri như bài Magnificat.
Luồng
sinh khí tiên tri luôn luôn đem hồn sống lại
cho suốt bài Magnificat, nhìn thoáng qua người
ta cho rằng đây là một bài góp nhặt nhiều
đoạn rải rác trong Cựu Ước.
Trong những đoạn thơ vô cùng đơn
giản, nhưng chứa đựng một sức
sống thiêng liêng diệu kỳ, Mẹ Maria đã
ca ngợi những kỳ công mà Thiên Chúa bắt
đầu hoàn thành, và còn tiếp tục hoàn thành
qua các thế kỷ. Thiên Chúa đã dùng hết
tài năng của mình trong giây phút Ngôi Lời nhập
thể bắt đầu sáng chói thế giới
bằng cách gây nên niềm hân hoan.
Ca
vịnh Magnificat đã mượn nhiều ý tưởng
trong ca vịnh bà Anna, thân mẫu tiên tri Samuel, nhất
là câu mở đầu: “Lòng tôi hớn hở trong
Chúa, uy danh tôi sẽ được dương
cao trong Ngài” (1S 2.1). Nhưng ca vịnh Magnificat
của Mẹ Maria đã vượt quá xa nhờ
những tư tưởng cao siêu của Mẹ.
Đoạn đầu trong ca vịnh Magnificat
có thể dịch thế này: “Linh hồn tôi ngợi
khen Thiên Chúa, và lòng trí tôi hớn hở mừng
rỡ trong Thiên Chúa, Chúa Giêsu tôi”. Câu đầu
ám chỉ ca vịnh bà Anna, còn câu thứ hai lại
mượn ở ca vịnh tiên tri Habacuc mà lễ
nhạc đã dịch sang Latinh cho chúng ta như
sau: “Et exultabo in Deo Jesu meo” (Ha 3.18).
Thiên
Chúa được hiển vinh; niềm hân hoan
Chúa Kitô đem đến đã làm cho các tâm hồn
được vui mừng hoan hỉ. Mẹ Maria
ý thức được rằng Mẹ không là
gì hết; chính Đấng Toàn Năng đoái nhìn
đến phận hèn nữ tì của Ngài và làm
những việc cao cả. Từ nay về sau
muôn thế hệ sẽ khen Mẹ là người
diễm phúc.
|