|
XI.
DÂNG HIẾN VÀ GẶP GỠ
Thánh
Luca đã nói rất dài về nghi thức cắt bì cho thánh Gioan Tẩy Giả
và tất cả những sự lạ lùng xảy ra sau đấy, nhưng lại chỉ nhắc
đến việc cắt bì cho Con Thiên Chúa trong một câu ngắn gọn. Một
câu đã đủ để nhắc lại sự việc: “Qua khỏi tám ngày, người ta làm
phép cắt bì cho Con Trẻ, và đặt tên cho Con Trẻ là Giêsu, tên
mà thiên thần đã chỉ định cho Ngài trước khi Ngài được dựng thai
trong lòng mẹ” (Lc 2.21). Khi thánh Gioan Tẩy Giả chịu cắt bì
thì khắp xứ đều mừng vui, và nhiều nhân vật được nhắc đến như
hàng xóm láng diềng, họ hàng thân quyến, bà Elizabeth và ông Zacharia,
và Hài nhi. Còn khi Chúa Giêsu chịu cắt bì thì lại không có những
chuyện như thế, không một nhân vật nào được nhắc đến, kể cả Hài
Nhi. Thánh Luca chỉ nói: “Làm phép cắt bì cho Hài Nhi và đặt tên
là Giêsu”.
Trong
phép cắt bì cho Chúa Giêsu thánh sử đã hữu ý chỉ kể lại rất vắn
tắt và không nói đến các chi tiết. Phép cắt bì là một dấu chứng
tỏ thuộc về dân Thiên Chúa, một dấu không chứng tỏ thuộc về một
dòng giống tinh anh, nhưng nói lên rằng đã được thống nhất trong
cùng một phụng tự và cùng một hy vọng. Đối với thánh Gioan Tẩy
Giả thì cha ngài hát lên ca vịnh Benedictus để cám ơn Thiên Chúa
Israel đã thăm viếng dân Ngài. Gioan, con ông Zacharia, từ nay
trở đi là thành phần trong dân được ưu tuyển, và là dấu chỉ Đấng
giải phóng đã được hứa ban sắp đến. Đối với Chúa Giêsu thì phép
cắt bì lại có một nghĩa khác. Ngài không cần dấu chỉ này để thuộc
về dân Thiên Chúa, Ngài không cần loài người đặt tên cho mình.
Sau
này Chúa Kitô sẽ phán: “Ta không đến để huỷ bỏ lề luật, nhưng
đến để kiện toàn lề luật” (Mt 5.17). Tuân theo luật cắt bì, Chúa
Giêsu đã làm cho nghi thức ấy được hoàn thành. Phép cắt bì không
còn lý do tồn tại nữa. Từ nay cho đến muôn đời, chính Chúa Kitô
đưa loài người vào dân tộc của Giao Ước mới, Dân tộc mới này sinh
ra bởi nước và Thánh Thần, không còn sinh ra bởi huyết nhục. Dân
tộc mới ấy thuộc mọi lòi giống, bao gồm mọi lứa tuổi, thuộc mọi
quốc gia, sinh ra cùng với Chúa Giêsu trong Thánh Thần.
Thánh
Giuse và Mẹ Maria chính thức đặt tên Giêsu cho Hài Nhi như Thiên
Chúa đã truyền cho các Ngài. Đối với Mẹ Maria cũng như đối với
Thánh Giuse thì đây là một hành động tiên tri mà hai Ngài thực
hiện trước công chúng và trước giáo quyền. Khi đặt tên Giêsu cho
con mình Mẹ Maria nhìn nhận trước mặt mọi người rằng Hài Nhi này,
“vị Thiên Chúa Cứu Thế”, đích thực là hoa trái của huyết nhục
Mẹ; còn thánh Giuse thì công khai tự nhận mình là gia trưởng và
lãnh nhận tất cả những trách nhiệm gây nên do danh tước này.
Sau
nghi thức cắt bì vài tuần đến nghi thức thanh tẩy, dâng hiến và
chuộc lại trong đền thờ Giêrusalem. Mẹ Maria cũng như Chúa Giêsu
rất sẵn lòng tuân theo những giới luật ấy, tuân theo không phải
để giữ đúng luật, càng không để tôn trọng các giới lệnh, nhưng
các Ngài tuân theo để hoàn thành các giới luật này. Thanh tẩy
Đấng hoàn toàn tinh khiết thế nào được? Chuộc lại Đấng là giá
chuộc loài người làm sao được?
Cũng
như khi viết về sinh nhật và nghi thức cắt bì Chúa Giêsu, thánh
Luca dùng kiểu nói: “Khi đã đến ngày” để mở đầu cho đoạn Phúc
Âm kể lại việc dâng hiến Chúa Giêsu trong đền thờ. Mỗi lần thuật
truyện là mỗi lần thánh sử đề cập đến một việc đã hoàn thành,
và một biến cố mới đang bắt đầu. Thời gian qua đi, công việc chuẩn
bị đã xong, nhưng một biến cố mới đang khởi sự. Thánh sử không
cho một chi tiết nào về việc Chúa Giêsu sinh ra, về nghi thức
cắt bì, về nghi thức thanh tẩy và dâng hiến. Những gì được ghi
lại quan trọng hơn cách thức những biến cố đã xảy ra. Con Thiên
Chúa thực sự đã sinh ra bởi Mẹ Maria ở Bethlem; Hài Nhi ấy có
một tên gọi chứng tỏ Ngài là ai và những gì Ngài vừa mới làm;
cũng như mọi con đầu lòng, Chúa Giêsu được dâng hiến cho Thiên
Chúa và được chuộc lại. Từ đây Ngài thuộc về chúng ta cho đến
muôn đời.
Thánh
Luca viết: “Khi đã đến ngày, lúc phải làm lễ thanh tẩy cho các
Ngài theo luật Maisen, thì ông bà đem Con Trẻ lên Giêrusalem để
dâng hiến cho Thiên Chúa, như đã viết trong luật Chúa là mọi con
trai đầu lòng được gọi là của thánh dâng kính Thiên Chúa, và chiếu
theo điều đã dạy trong Luật thì phải dâng làm của lễ một cặp chim
gáy hay một đôi bồ câu non” (Lc 2.22).
Đoạn
Phúc Âm này ba lần đề cập đến luật Thiên Chúa. Mẹ Maria và thánh
Giuse chấp nhận cho mình và cho Chúa Giêsu tất cả những giới luật
của Giao ước cũ. Các Ngài có thể tự chuẩn chước một cách hợp tình
và hợp lý, vì những giới lệnh ấy không có liên quan gì với các
Ngài. Các Ngài đã vui vẻ thi hành để các giới lệnh ấy được hoàn
thành. Giao ước mới đã thay thế giao ước cũ bằng cách giúp giao
ước cũ đạt được đích.
Chúng
ta mà tìm ra được một tên xứng hợp hoàn toàn với ngày lễ nhắc
nhớ lại giai đoạn Phúc Âm này. Chữ “Thanh tẩy” nói lên quá ít
ý nghĩa, chữ này hoàn toàn tiêu cực, và chỉ nhắc lại một giới
lệnh hợp pháp nhưng lại không thích hợp với Mẹ Maria. Chữ “Dâng
hiến” còn có những ý nghĩa phong phú và đích đáng hơn nữa. Tuy
nhiên chữ này lại tối nghĩa, vì Chúa Giêsu không tự mình dâng
hiến, nhưng Chúa được Mẹ Maria và thánh Giuse dâng hiến. Hơn nữa,
thánh Luca không nhắc đến nghi thức thanh tẩy và dâng hiến. Chữ
“Lễ nến” nói lên một ý nghĩa trong sáng và có nhiều biểu tượng
hơn. Dưới một hình thức thi vị, danh từ “Lễ nến” nhắc lại đám
rước đầu tiên xưa kia: đám rước chỉ có Thánh Giuse và Mẹ Maria
đi từ Bethlem lên Giêrusalem. Các Ngài ẵm bế Chúa Giêsu là ánh
sáng thật đến sống trong thế gian.
Nghi
lễ Đông phương dùng một danh từ có ý nghĩa rất sát với đoạn Phúc
Âm là gặp gỡ, Hội ngộ, Hypapante. Tất cả câu chuyện của thánh
Luca đềy xoay quanh ông Simêon và bà Anna, hai người được ơn soi
sáng của Chúa Thánh Thần, nhận ra được Chúa Cứu Thế, và hân hoan
đón tiếp Ngài. Đây là một cuộc hội ngộ tốt đẹp, một cuộc hội ngộ
đánh dấu một đời sống muôn thuở. Cuộc hội ngộ của các mục đồng
đã qua đi trong tình thân mật, trong một chuồng súc vật; cuộc
hội ngộ này đã xảy ra ngay trong đền thờ Giêrusalem, giữa đô hội,
nhân dịp một nghi thức tôn giáo.
Câu
chính trong đoạn Phúc Âm của thánh Luca là “Oâng bà đem Hài Nhi
lên Giêrusalem để dâng hiến cho Thiên Chúa”. Oâng bà là thánh
Giuse và Mẹ Maria, còn Hài Nhi là Chúa Giêsu. Cả ba đều hợp nhất
với nhau một cách đặc biệt trong mầu nhiệm thanh tẩy và hiến dâng.
Các Ngài đã mật thiết hợp nhất với nhau trong nghi thức cắt bì;
Mẹ Maria và thánh Giuse, đã cùng đặt tên cho Hài Nhi là Giêsu.
Bây giờ các Ngài lại lại lên Giêrusalem để cùng dâng hiến Con
cho Thiên Chúa.
Đối
với các ngài thì nghi thức hiến dâng phức tạp hơn nghi thức cắt
bì. Luật Maisen đã được viết nên cho những trường hợp thường.
Gia đình nào có con đầu lòng là trai thì phải hiến dâng đề phụng
sự Thiên Chúa. Khi ra khỏi Aicập, Thiên Chúa đã dành riêng cho
Ngài tất cả các con đầu lòng, nhưng các con đầu lòng này sau đó
đã được bộ tộc Lêvi thay thế. Bộ tộc Lêvi được tuyển chọn để lo
việc phượng tự. Con đầu lòng của các bộ tộc khác vẫn tiếp tục
phải được hiến dâng nhưng được trả lại cho gia đình với một món
tiền chuộc tượng trưng. Người ta phải trả năm đồng tiền bằng bạc
để chuộc lại.
Một
vấn đề đặt ra cho thánh Giuse và Mẹ Maria. Đã hẳn, Hài Nhi này
thuộc về các Ngài; nhưng Hài Nhi lại có trước các Ngài vì Hài
Nhi là Con Thiên Chúa. Vậy thì dâng hiến và chuộc lại có ý nghĩa
gì? Đàng khác, các Ngài có quyền dâng hiến Hài Nhi trong đền thờ
như là hoa trái đem lại cho cuộc hôn nhân của các Ngài không?
Thật ra các Ngài đã hành động như các người khác, không đòi một
đặc quyền nào và cũng không hề phô trương.
Khi
các Ngài bước qua ngưỡng cửa đền thờ thì một cụ già đáng kính
vui vẻ bước tới và giơ tay đón lây Hài Nhi. Cụ già ấy tên là Simêso.
Người ta không biết gì về cụ, ngoại trừ cụ sống dưới ơn linh động
của Chúa Thánh Thần. Thánh sử nhắc đến Chúa Thánh Thần ba lần:
“Đây
là một người chính trực và nhân đức. Cụ hằng trông đợi Đấng an
ủi dân Israel, và được Chúa Thánh Thần ngụ trong cụ. Cụ được báo
cho biết trước rằng cụ sẽ không chết trước khi gặp được Đức Kitô
của Thiên Chúa. Được Chúa Thánh Thần thúc đẩy, cụ vào đền thờ”
(Lc 2.25).
Một
thánh ca rất cổ xưa hát rằng:
“Cụ
già bế Hài Nhi, nhưng chính Hài Nhi lại hướng dẫn cụ già. Hài
Nhi ấy sinh ra bởi một trinh nữ, và trinh nữ vẫn còn đồng trinh
sau khi sinh con; trinh nữ đã thờ lậy Đấng mà trinh nữ đã sinh
ra.
Senex
puerum portabat, puer autem senem regebat: quem virgo peprit,
et post partum virgo permansit: Ipsum autem genuit adoravit.
Cụ
Simêon thấy mình đã được no thoả: “Lạy Chúa, giờ đây xin cho tôi
tớ Chúa ra đi bình an như lời Chúa đã phán. Vì mắt tôi đã trông
thấy ơn cứu độ của Chúa, ơn cứu độ mà Chúa đã chuẩn bị trước mặt
muôn dân. Aùnh sáng mặc khải cho dân ngoại, và vinh quang của
Israel dân Ngài” (Lc 2.29).
Thánh
Luca còn nói thêm: “Cha mẹ Ngài bỡ ngỡ về những lời cụ già Simêson
vừa nói về Ngài”. Trong một hoàn cảnh trang trọng như thế, thánh
sử đã không sợ gì mà gán cho thánh Giuse danh từ Cha, và gọi Mẹ
Maria là Mẹ. Thánh sử xác nhận không có liên hệ huyết nhục gì
trong quyền làm cha này. Thánh sử dùng danh từ cha để nhấn mạnh
rằng sự hiện diện của thánh Giuse trong lúc ấy là cần thiết. Thánh
Giuse không phải là một nhân vật làm cảnh, Ngài hành động với
tư cách là đại diện cho Cha trên trời. Cụ già Simêon nói với thánh
Giuse và Mẹ Maria; cụ chúc lành cho hai Ngài, nghĩa là cụ khen
ngợi và tạ ơn Thiên Chúa cho hai Ngài.
Rồi
vẫn còn ẵm Hài Nhi trong tay, cụ Simêon nói với Mẹ Maria: “Này
đây Hài Nhi này sẽ nên cớ cho nhiều trong dân Israel phải hư hỏng
và nhiều người được rỗi, lại nên bia cho người ta chống đối. Phần
bà một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà. Bởi đó, tư tưởng trong
lòng nhiều người sẽ được lộ ra” (Lc 2.34).
Đối
với Mẹ Maria và thánh Giuse, mọi việc đã rõ ràng: trong dân Israel,
người ta hoặc ủng hộ Chúa Giêsu, hoặc là chống đối Chúa Giêsu
chứ người ta không thể dửng dưng trước mặt Ngài. Mẹ thấy đây là
lời tiên báo những đau khổ thấm thía.
Cùng
với cụ già Simêon còn có một nhân vật nữa cũng nổi bật lên giữa
những người đã nhận ra Chúa Giêsu trong khi Thánh Gia đến đền
thờ Giêrusalem. Đây là một cụ bà thánh thiện, rất già và goá bụa,
sống dưới ảnh hưởng của Thần khí tiên tri. Tên cụ là Anna; cụ
không rời khỏi đền thờ, ngày đêm sống trong chay tịnh và cầu nguyện.
Lúc ấy cụ cũng chợt đến, nói về Hài Nhi cho tất cả những ai đang
mong đợi Giêrusalem được giải phóng. Cụ nhập bọn và ngợi khen
Thiên Chúa” (Lc 2.36).
Mặc
dầu những đau khổ trong tương lại đã được tiên báo, thánh Giuse
và Đức Mẹ cũng vô cùng hoan hỷ. Có những người bề ngoài hình như
không biết gì về Chúa Giêsu, nhưng đã nhận ra Ngài trong thành
Giêrusalem, ngay giữa thành đô. Mẹ Maria và thánh Giuse không
nói ra, nhưng các Ngài cũng thấy quanh mình nhưng tâm hồn say
yêu Hài Nhi mà mình vừa mới hiến dâng Thiên Chúa.
Chắc
chắn còn có nhiều cuộc hội ngộ nữa, nhiều cuộc nhận ra Chúa Giêsu
ở Giêrusalem hoặc ở Bethlem. Thánh Luca không nói đến những cuộc
hội ngộ này. Kể chuyện nữ tiên tri Anna xong, thánh sự nói thêm
để kết luận: “Sau khi làm đầy đủ mọi việc như luật dạy, hai ông
bà trở về Nazareth xứ Galilêa” (Lc 2.39). Thánh sử cũng không
xác định ngày tháng cuộc hồi hương. Rồi vỏn vẹn trong vài dòng,
thánh sử đã tóm kết lại cuộc đời Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh
Giuse trong suốt khoảng thời gian mười hai năm: “Còn Hài Nhi lớn
dần, trở nên vững mạnh, tràn đầy khôn ngoan và ân sủng Thiên Chúa
ở cùng Ngài” (Lc 2.40).
|