|
XII.
CHÚNG TÔI ĐÃ THẤY NGÔI SAO CỦA NGÀI
Thánh
Matthêu không nói đến cuộc hội ngộ giữa cụ già Simêon, cụ bà Anna
và Chúa Giêsu trong đền thờ Giêrusalem. Nhưng thánh sử đề cập
đến cuộc hội ngộ khác gian lao và ngoạn mục hơn, cuộc hội ngộ
của các đạo sĩ đến từ Phương đông. Cả hai trường hợp đều liên
hệ đến việc tìm ra Hài Nhi Thiên Chúa nhờ một ánh sáng chiếu xuống
từ trên cao. Sự hoà hợp về thời gian giữa những sự việc được kể
lại do thánh Luca và những biến cố nhắc lại do thánh Matthêu đặt
ra cho các nhà giải nghĩa Thánh Kinh vài vấn đề, nhưng những sự
kiện ấy không mâu thuẫn với nhau.
Người
ta có thể xoá bỏ tất cả những khó khăn bằng cách cho rằng việc
các đạo sĩ đến chỉ là một truyện truyền kỳ thi vị hoặc chỉ là
một chuyện ngụ ngôn. Chúng ta nên thành thực hơn mà tìm hiểu những
gì đã được viết ra hơn là đào sâu những vấn nạn. Suy nghĩ một
chút, chúng ta sẽ thấy rằng trong đền thờ Giêrusalem cụ già Simêon
ẵm Hài Nhi Giêsu, và loan báo rằng Hài Nhi này sẽ là “một ánh
sáng chiếu soi dân ngoại”, và đồng thời cũng là “dấu chỉ cho nhiều
người chống đối” (Lc 2.32). Lúc ấy, thánh Luca không cho ví dụ
về cuộc hội ngộ với dân ngoại hoặc về dấu chỉ chống đối. Chỉ có
người Dothái và tất cả đều là bạn hữu.
Sau
khi quả quyết rằng Chúa Giêsu sinh ra ở Bêthlem, thánh Matthêu
cho chúng ta thấy rằng có vài người đạo sĩ đang đi tìm Đấng Thiên
Sai. Trong mọi thời và trong mọi xứ sở, bao giờ cũng có những
người đi theo ánh sao tìm cầu Thiên Chúa. Vì thế không lấy gì
làm lạ khi thấy các đạo sĩ từ Phương đông đến Giêrusalem để tìm
một vị vua mới sinh. Khi Phúc Âm được viết lên thì những người
đã được chứng kiến những biến cố vẫn còn sống, vì thế họ có thể
phản đối nếu Phúc Âm viết sai. Mà trong các thế kỷ đầu của Giáo
hội, thực sự người ta không gặp những khó khăn trong việc các
đạo sĩ đến Bethlem, trong vụ tàn sát các hài nhi, và trong cuộc
đào tẩu sang Aicập.
Mặc
dầu lễ nghi mừng lễ Hiển linh trước lễ Dâng hiến Chúa Giêsu trong
đền thờ, nhưng cứ lý đương nhiên mà xét thì những biến cố lại
xảy ra theo một thứ tự nghịch đảo. Đã hẳn lễ nghi không theo thứ
tự thời gian, vì lễ nghi mừng cái chết chứng ta của các anh hài
trước khi mừng các đạo sĩ đến, nếu các đạo sĩ đến ngay sau khi
Chúa Giêsu sinh ra thì Mẹ Maria và thánh Giuse hành động thật
là thiếu khôn ngoan khi các Đấng đem Hài Nhi lên đền thờ Giêrusalem.
Khi
Chúa Giêsu sinh ra và khi các đạo sĩ đến, dân cư thành thánh Giêrusalem
sống trong lo sợ, và có thể nói được là sống trong kinh hoàng.
Vua Herode được gọi là Đại đế vì đã rộng lượng kiến thiết lại
Giêrusalem, nhưng laị trở nên tàn bạo và tham lam. Nhà vua sống
những năm tháng cuối đời, và tuổi già đã làm cho nhà vua có tình
đa nghi. Nhà vua nhìn thấy khăp nơi những đối thủ sẵn sàng chiếm
đoạt ngai vàng. Với một tâm trạng như thế, nhà vua rất dị đoan,
thấy khắp nơi những điềm gở.
Trong
bầu không khí nghi kỵ ấy, vài người khách lạ đến Giêrusalem và
hỏi thếâ này: “Vua dân Dothái mới sinh ra ở đâu? Chúng tôi đã
thấy ngôi sao của Ngài mọc lên bên trời Đông, và chúng tôi tìm
đến để triều bái Ngài” (Mt 2.2). Những người ấy đến từ Phương
đông, ngoài ra không có một chi tiết nào rõ ràng hơn. Họ là những
đạo sĩ, những bác học, nghĩa là những nhà thiên văn, những chiêm
tinh gia trong thời ấy.
Câu
chuyện các đạo sĩ gây nên xôn xao khắp Giêrusalem. Trong đền vua
Herode không có một hoàng tử nào vừa sinh ra hoặc sắp sinh ra.
Có sao loan báo một vua mới sinh, thật là một biến cố đánh mạnh
vào trí tưởng tượng. Người ta nghĩ ngay đến lời tiên tri Balaam:
“Tôi thấy Ngài, nhưng không phải lúc này, tôi đã nhận ra Ngài,
nhưng Ngài chưa đến gần lắm: một ngôi sao xuất hiện từ nhà Giacóp,
một phủ việt đứng dậy từ Israel” (Nb 24.17).
Mật
vụ của Herode có mặt ở khắp nơi, nên nhà vua biết tin ngay. Nhà
vua có linh cảm rằng đây không phải là một địch thủ tầm thường,
nhưng là vị vua đã được các tiên tri báo trước. Các đạo sĩ nói
đến một vua chứ không nói đến hoàng tử. Herode cho nhóm họp các
giới chức tôn giáo lại ngay và hỏi họ rằng: “Đấng Thiên Sai phải
sinh ra ở đâu?” Họ trả lời rõ ràng rằng: “Ở Bethlem xứ Giudêa,
theo lời tiên tri Michea” (Mt 2.5).
Đồng
thời nhà vua cũng bí mật vời các đạo sĩ vào đền để hỏi han cặn
kẽ. Như vậy sẽ tránh được tiếng đồn trong dân. Khi đã có được
tin tức đầy đủ, Herode để các đạo sĩ đi Bethlem và nhờ họ dò hỏi
tỉ mỉ về tất cả những gì có liên quan đến Hài Nhi. Nhà vua vờ
cho các đạo sĩ biết rằng mình cũng muốn đến bái yết vị Tân Vương
đó. Qua cách cư xử này người ta biết được tính tình Herode là
xảo quyệt, khôn ngoan và áp chế. Nhà vua muốn biến các đạo sĩ
thành những mật vụ trở lại báo cáo lên nhà vua những gì họ đã
trông thấy và đã làm.
Các
đạo sĩ lại hào hiệp lên đường, và không mấy chốc sự kiên tâm bền
chí của họ được đền bù cách xứng đáng vì họ lại thấy ngôi sao
chiếu sáng trước mặt họ. Trông thấy sao họ được vui mừng hoan
hỉ. Đây là ngôi sao của vị Tân Vương, ngôi sao mà họ đã thấy bên
trời Đông. Lúc này đây sao lại xuất hiện đi trước họ trên con
đường dẫn đến Bethlem. Câu văn thánh Matthêu dùng để diễn tả niềm
hân hoan này thật ra không tài nào dịch nổi: Họ hớn hở với một
niềm vui không bờ bến, họ vô cùng hoan hỉ. Quãng đường còn lại
xem ra quá ngắn ngủi vì đoạn Phúc Âm nối kết việc trông thấy ngôi
sao nối ngõ vào nhà.
Để
diễn tả cuộc hội ngộ lần thứ nhất giữa Chúa Cứu Thế và thế giới
ngoài Dothái, Phúc Âm chỉ dùng vài chữ: “Và khi vào nhà họ trông
thấy Con Trẻ và Maria Mẹ Ngài. Bấy giờ họ phục mình xuống đất
bái yết Ngài. Rồi mở lễ vật ra, họ dâng Ngài vàng, nhũ hương và
một dược” (Mt 2.11).
Đoạn
Phúc Âm thật chính xác, các đạo sĩ nhìn Con Trẻ với Mẹ Ngài. Chúa
Giêsu bây giờ là một Con Trẻ đươc ẵm bế trên tay hoặc ngồi trên
gối Mẹ Maria, chứ không còn là một hài nhi sơ sinh nằm trong máng
cỏ mà các mục đồng đã nhận ra; Con Trẻ lúc này đã khôn lớn, có
thể lên hai hoặc lên ba tuổi. Những đạo sĩ chắc đã chào Con Trẻ
và ca tụng Mẹ, đó là việc rất thường tình. Mẹ Maria nghĩ gì khi
Mẹ thấy những người lạ mặt phủ phục trước Con Mẹ và dâng Ngài
vàng, nhũ hương và một dược?
Người
ta có thể tha hồ suy ngắm về cách thánh Giuse và Mẹ Maria đón
tiếp những khách lạ này. Lòng hiếu khách chân thật không mấy chốc
đã biến thành bằng hữu. Hai Đấng sẵn sàng đón khách. Hai Đấng
vồn vã với khách, nhưng thật ra hai Đấng kéo dài công việc sửa
soạn ra để giữ khách lại càng lâu càng hay. Các đạo sĩ cũng không
vội vã gì vì họ đã đạt được đích cuộc hành trình.
Mẹ
Maria, thánh Giuse và các đạo sĩ đều đươc vui mừng khôn tả. Nếu
các đạo sĩ đã vô cùng hoan hỉ khi thấy ngôi sao ngoài cổng thành
Giêrusalem, thì hạnh phúc họ được hưởng hẳn là cao cả biết mấy
khi họ tìm ra được Chúa Giêsu trong tay Mẹ Maria. Sau cùng họ
đã gặp được Đấng mà họ đã tìm kiếm; họ được thoả thuê nhìn ngắm
Đấng ấy. Chúa không bao giờ để những ai hết lòng đi tìm Chúa phải
thất vọng. Mẹ Maria và thánh Giuse cũng vui mừng không kém gì
những đạo sĩ. Mẹ có thể hát lên trong thẳm cung linh hồn Mẹ ca
vinh Magnificat vì các dân tộc đã khen Mẹ diễm phúc.
Các
đạo sĩ nói đến cuộc hành trình; họ kể lại làm sao họ trông thấy
không phải một sao nào đấy, nhưng là chính ngôi sao của vị Tân
Vương và họ đã được tiếp đón ở Giêrusalem thế nào. Khi họ nhắc
lại việc vua Herode ra lệnh cho họ phải trở lại báo cáo tất cả
những gì có liên quan đến Con Trẻ đển ông cũng đến bái yết vị
Tân Vương, Mẹ Maria và thánh Giuse hẳn đã phải rùng mình kinh
hãi.
Phần
thứ nhất trong lời tiên tri Simêon đã được hoàn thành, Chúa Giêsu
là ánh sáng muôn dân: Phần còn lại của lời tiên tri này cũng sẽ
được ứng nghiệm sớm: “Hài Nhi này sẽ nên cớ cho người ta chống
đối, và một lưỡi gươm đau khổ sẽ đâm thấu tâm hồn bà”. Chính các
sự kiện nói lên sự thật: các đạo sĩ nhận được lời cản ngăn từ
trời cao đừng trở lại gặp vua Herode nữa; thánh Giuse nhận được
lệnh lên đường trốn sang Aicập vì Herode đang tìm giết Con Trẻ.
Thiên
thần nói với thánh Giuse: “Trỗi dậy, đem Hài Nhi và Mẹ Ngài trốn
sang Aicập” (Mt 2.13). Chúng ta có thể tưởng tượng ra thánh Giuse
nhẹ nhàng đánh thức Mẹ Maria, và cho Mẹ hay lệnh từ trời ban xuống.
Mẹ đoán ngay được nỗi nguy hiểm đang đe doạ. Mẹ bế Con, vội vã
đem theo được ít thức ăn rồi đi theo thánh Giuse. Các hai phải
ra đi trong đêm tối. Phải bỏ lại tất cả, bỏ lại hàng xóm láng
diềng, bỏ lại đồ ăn thức dụng. Hai Đấng không kịp từ giã ai, và
cũng không kịp cho ai biết lý do phải ra đi.
Người
ngoại giáo đã đến bái yết Chúa Giêsu, bây giờ chính Chúa Giêsu
đi sang đất ngoại giáo. Mẹ Maria và thánh Giuse là những thừa
sai tiên khởi. Các Ngài đi không vì lý do riêng tư, nhưng đi để
hoàn thành thánh ý Thiên Chúa. Ngoài lòng tì hiềm của Herode ra,
còn có thánh ý Thiên Chúa muốn cho các dân ngoại cũng được cứu
rỗi. Vì thế, các cộng đồng Kitô hữu đầu tiên bên Aicập đã thành
lập một lễ kính nhớ việc thánh Gia Thất lưu vong sang đó. Họ nhận
thấy việc Chúa Hài Nhi lánh nạn một biến cố tiên tri quan trọng
là ánh sáng đã đến trong nước họ.
Cũng
với Mẹ Maria, Chúa Giêsu đáp lễ lại cuộc thăm viếng của dân ngoại.
Xứ sở được chọn là Aicập, vì dân Dothái và người Aicập là hai
dân tộc phải nhờ vả nhau trong suốt dòng lịch sử. Sang Aicập,
Mẹ Maria và thánh Giuse đã làm sống lại cả một trang sử của Dothái
từ những ngày tổ phụ Abraham trú ngụ bên ấy. Trong Thánh Kinh,
Aicập cũng được nhắc đến nhiều lần.
Trong
khi Mẹ Maria đem Chúa Giêsu sang Aicập thì một tấn thảm kịch hãi
cùng đã xảy ra ở Bethlem. Thấy các đạo sĩ bí mât biến mất, Herode
ra lệnh giết tất cả các trẻ nam trong vùng từ hai tuổi trở xuống.
Lệnh phải được thi hành cách triệt để, nhưng người ta không biết
thi hành làm sao. Vì nhà vua gìa nua này ra lệnh chém giết như
thế nên việc tàn sát các trẻ em vô tội ít người biết đến.
Ai
hiểu được nỗi đau đớn của các bà mẹ ở Bethlem. Ai tả nổi niềm
đau thương sầu muộn của Mẹ Maria khi nghe tin hành động khát máu
của Herode. Lưỡi gương sầu khổ đã đâm sâu vào lòng Mẹ. Mẹ cam
chịu tất cả những khổ đau của các bà mẹ. Giáo hội mừng lễ các
anh hài sau lễ Giáng sinh. Các anh hài là những người đầu tiên
lấy máu mình làm chứng Con Thiên Chúa đã đến trần gian. Họ làm
chứng không phải bằng lời nói, nhưng bằng cái chết.
Chúa
Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse được Thiên Chúa yêu hơn hết, nhưng
Chúa đã để các Ngài phải chịu thử thách như những người xấu số
nhất trên đời; Chúa để các Ngài gị truy nã, phải lưu vong, và
là nạn nhân của lòng căm thù, cùng thiếu mọi sự giúp đỡ của con
người. Vì yêu chúng ta, Con Thiên Chúa đã khấng sống cùng cực
và hoàn toàn lệ thuộc. Chúa không có gì, không có nhà ở, Chúa
chỉ là một người lưu vong. Chúa tạo dựng nên mọi sự và mọi sự
đều thuộc vào Chúa, thế nhưng bây giờ Chúa không có gì, Chúa không
có nhà ở, Chúa chỉ là một người lưu vong.
Nhưng
Chúa không thiếu một sự gì vì Chúa có tất cả những gì Chúa đến
trần gian này để tìm kiếm: Chúa có những tâm hồn yêu Chúa. Đối
với Mẹ Maria và thánh Giuse thì Chúa Giêsu là tất cả một kho tàng;
với Chúa, các Ngài có tất cả, gần Chúa các Ngài cảm thấy hoàn
toàn sống yên hàn. Vả lại các Ngài tin chắc sẽ có ngày từ giã
nơi đất khách quê người này để trở về quê hương, vì thiên thần
đã hứa như thế.
|