|
XIV. GIÊSU, MARIA,
GIUSE
Khi
nói rằng: “Chúa Giêsu càng thêm tuổi càng thêm khôn ngoan, vóc
dáng và ân sủng trước mặt Thiên Chúa và trước mặt người ta”, thánh
Luca cho chúng ta thấy Ngôi Lời nhập thể đã thật sự phát triển
về thể lý và tinh thần. Nhân tính của Chúa không phải là một chiếc
áo mượn mà Ngài mặc vào để làm một cuộc lữ hành dưới trần gian
này. Nhân tính đã kết hợp với thiên tính một cách bền chặt trong
Chúa Giêsu Kitô.
Đã
hẳn, Con Thiên Chúa có thể đến trong thế gian này ở tuổi trưởng
thành mà không cần đến giáo dục và học hành. Nhưng Ngài đã muốn
thực sự trở nên một người như chúng ta. Mẹ Maria không những là
Mẹ Ngài mà còn là người giáo dục Ngài nữa. Để cho nhân tính của
mình phát triển một cách điều hoà, Con Thiên Chúa đã muốn có một
môi trường thuận tiện là gia đình Nazareth, và một nền giáo dục
thích hợp là nền giáo dục của Mẹ Maria và thánh Giuse.
Giáo
dục là làm cho những khả năng tiềm ẩn trong đứa trẻ phát triển
đến độ trưởng thành. Chúng ta không biết Mẹ Maria đã dùng phương
pháp nào để giáo dục Chúa Giêsu chẳng những lớn thêm về sức vóc
và khôn ngoan mà còn cả về ân sủng trước mặt Thiên Chúa và người
ta nữa. Nói cách khác, trước mặt mọi người thì Chúa Giêsu là một
trang thanh niên hoàn hảo chẳng những về phương diện nhân loại
mà còn cả trước mặt Cha Ngài ở trên trời. Như vậy chúng ta có
quyền mà kết luận rằng gia đình Nazareth là một gia đình hoàn
toàn quân bình về phương diện sinh lý.
Những
lời Chúa Giêsu nói, những điều Ngài giảng dạy, và cách Ngài hành
động đều chứng tỏ rằng có một sự hoà hợp tuyệt diệu giữa xúc động
và tình cảm. Tiến sĩ Chautard thích lặp lại câu này: “Chúa Giêsu
Kitô chỉ đạt được sự quân bình hoàn hảo về tình cảm như Phúc Âm
làm chứng nhờ nam tính tuyệt hảo của thánh Giuse hoà hợp với nữ
tính tuyệt diệu của Mẹ Maria”. Đức sạch sẽ được thánh Giuse vui
vẻ chấp nhận không hề làm tổn thương đến tình yêu hỗ tương giữa
Mẹ Maria và Ngài. Sự tự do phát xuất từ tình yêu cho phép các
Ngài sống cuộc sống đời tận hiến cho Con Thiên Chúa đã được ký
thác cho mình.
Đức
đồng trinh của Mẹ Maria và đức sạch sẽ của thánh Giuse không làm
tê liệt khả năng yêu đương nơi các Ngài. Đã hẳn sứ mạng của các
Ngài thật là lạ lùng, nhưng bản thân các Ngài cũng thuộc về nhân
loại chúng ta. Chúng ta không nên sợ mà nhìn ngắm Mẹ trong những
hoạt động, và tình yêu nhân loại của Mẹ. Mẹ Maria là một hiền
thê đáng yêu hơn hết, và cũng chan chứa tình yêu hơn hết. Mẹ Maria
và thánh Giuse có thể yêu nhau một cách cao thượng và không dè
dặt vì các Ngài có thể yêu nhau mà không hề có tì vết ích kỷ.
Mẹ
Maria và thánh Giuse có những chuyện va chạm với nhau và với người
khác, điều ấy không thể tranh được. Các Ngài khác nhau về tính
tình và sở thích. Mỗi người cũng có một nếp sống thiêng liêng
riêng biệt. Thiên Chúa không dựng nên một sự gì theo giây chuyền,
và cũng không dẫn đưa loài người đi cùng một con đường theo cùng
một nước bước. Ngoài những điều khác biệt ấy ra, Mẹ Maria và thánh
Giuse hợp nhất với nhau trong cùng một ơn thiên triệu là thực
hiện những gì Thiên Chúa trông đợi các Ngài.
Hôn
nhân hường về lợi ích chung của nhân loại. Ngoài việc phát huy
bản ngã của đôi vợ chồng ra, hôn nhân còn có mục đích tăng trưởng
và cải thiện nhân loại. Việc hôn nhân của Mẹ Maria và thánh Giuse
đã được dự liệu để hoàn thành ý định của Thiên Chúa là cứu chuộc
loài người. Mẹ không để lại cho thế gian một gia đình đông đảo
hoặc ít con cái, nhưng Mẹ đã ban cho thế gian Đấng dẫn đưa loài
người đến cùng Chúa Cha và đem lại cho nhân loại đời sống vĩnh
cửu.
Để
hoàn thành kế hoạch Thiên Chúa, Mẹ Maria và thánh Giuse đã hoàn
toàn đặt dưới quyền sử dụng của Thiên Chúa sự tự do, tình yêu,
hạnh phúc lứa đôi, những sở thích và những khát vọng chính đáng
của mình. Các Ngài đã chấp nhận những xả thân và quên mình, những
câu thúc và kiềm chế mà môt ơn thiên triệu đặc biệt đòi phải có.
Các Ngài đã tận hiến trót cuộc đời để phụng sự giao ước mới và
vĩnh cửu. Thật ra, không một gia đình nào lại hữu ích cho lợi
ích chung của nhân loại bằng gia đình các Ngài.
Người
ta nghi ngờ một cách quá dễ dàng đức đồng trinh của Mẹ Maria và
đức thanh sạch của thánh Giuse. Hoặc người ta cho rằng Mẹ Maria
và thánh Giuse không có giao hợp với nhau vì Mẹ được hưởng đặc
ân Đầu Thai Vô Nhiễm nguyên tội, còn thánh Giuse lại đã trọng
tuổi. Quan niệm như thế không có gì làm căn bản mà laị mâu thuẫn
với lương tri. Không có chỗ nào nói rằng thánh Giuse là một ông
lão gìa, và cũng không có chỗ nào cho rằng ánh sáng Thiên Chúa
Mẹ nhận được vào giây phút đầu tiên trong cuộc đời đã biến Mẹ
nên một hữu thể vô cảm giác, không biết yêu. Không đâu đề cập
đến tuổi của Mẹ Maria, nhưng mỗi người đều cho rằng Mẹ là một
thiếu nữ trẻ măng. Vậy thì tại sao người ta không lý luận như
thế đối với thánh Giuse.
Để
chống lại đức đồng trinh của Mẹ Maria, người ta nêu lên nhiều
vấn nạn khi những anh chị em của Chúa Giêsu đươc Phúc Âm nhắc
đến nhiều lần. Phải trả lới dứt khoát rằng Phúc Âm không hề nói
gì để người ta có thể coi những anh chị em được nhắc đến trong
Phúc Âm là những con đẻ của Mẹ Chúa Giêsu. Trong Thánh Kinh, chữ
anh chị em chỉ họ hàng xa hoặc gần. Tiếng Hybalai không có danh
từ để chỉ anh chị em sinh cùng một cha mẹ, vì thế đã dùng chữ
con trai hoặc con gái để chỉ rõ một hệ tộc trực tiếp. Còn những
anh chị em họ, những cháu trai và những cháu gái bao giờ cũng
gọi là anh em và chị em.
Để
phủ nhận đức đồng trinh của Mẹ Maria người ta còn căn cứ vào Phúc
Âm thánh Matthêu nói rằng: “Giuse không ăn ở với bà cho đến khi
bà sinh con trai đầu lòng” (Mt 1.25). Căn cứ vào câu này một số
người muốn kết luận rằng sau khi Chúa Giêsu sinh ra, giữa Mẹ Maria
và thánh Giuse đã ăn nằm với nhau. Ở đây chúng tôi phải nói rằng
truyền thống bao giờ cũng xác quyết Mẹ đồng trinh vĩnh viễn. Đàng
khác cũng nên biết rằng trong Thánh Kinh cụm từ “cho đến khi”
không chỉ một thời hiệu giới hạn, một trạng thái chấm dứt, nhưng
chỉ một thực tại còn kéo dài và tiến đến mức hoàn hảo.
Chúa
Giêsu phán với các Tông đồ trong khi từ giã các ông để lên trời:
“Ta ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28.20). Chúa
Giêsu quả quyết rằng sự hiện diện của Ngài giữa chúng ta được
bảo đảm luôn mãi, Ngài không phán sự hiện diện này chấm dứt sau
ngày tận thế. Trường hợp điển hình nhất là trường hợp vua Đavít
cùng với vợ vua là Mikal. Bà này cười chê vua khi vua nhảy múa
trước hòm bia giao ước đang được rước về Giêrusalem. Sau đấy trong
gia đình vua đã xảy ra nhiều chuyện rắc rối khiến vua quyết định
chia ly với vợ. Việc ly tán trong gia đình Đavít đã được kể laị
trong câu: “và Mikal, con Saul, không có con cho đến ngày qua
đời” (2S 6.23). Không một ai cho rằng sau khi chết bà ta lại có
con.
Người
ta có lý mà nhắc lại rằng gia đình Mẹ Maria và thánh Giuse là
gia đình gương mẫu của các gia đình Kitô hữu. Nói như thế là đúng,
và người ta thấy rằng những gia đình muốn xưng danh là Kitô hữu
phải suy ngắm Phúc Âm. Có suy ngắm Phúc Âm người ta mới khám phá
ra được những lời giáo huấn đặc biệt hữu ích trong cách cư xử
của Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse.
Phúc
Âm không cho chúng ta biết gì về những công việc và giao dịch,
về cách ăn mặc và ăn uống của gia đình Nazareth. Đây là một lời
mời gọi chúng ta không nên bắt chước những thái độ bên ngoài,
nhưng chỉ nên giữ laị trong lòng những tâm tình đã làm phấn khởi
lòng Chúa Giêsu, cũng như Mẹ Maria và thánh Giuse. Ở Nazareth
các Ngài yêu thương nhau và làm lụng, các Ngài luôn mở rộng cửa
đón tiếp khách, và trên mọi sự, các Ngài lãnh nhận với lòng cậy
trông và yêu mến những sắp đặt của Chúa quan phòng.
Đêm
trước ngày tử nạn Chúa Giêsu nói với các Tông đồ rằng: “Như Cha
đã yêu mến Thầy, thì Thầy cũng yêu mến các con; hãy ở lại trong
tình yêu Thầy” (Jn 15.9). Chúa còn dạy: “Điều răn của Thầy là
các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con” (Jn15.12).
Đã hẳn, người thứ nhất được thừa hường lới giáo huấn và tình yêu
này là Mẹ Maria và thánh Giuse. Như Cha trên trời đã yêu Ngài
thế nào thì Ngài cũng yêu Cha Mẹ Ngài thế ấy. Hai Ngài là những
người đầu tiên đem ra thực hành giới lệnh yêu nhau như Chúa Giêsu
đã yêu thương hai Ngài.
Người
ta có thể phân biệt được ba giai đoạn trong mối tình Mẹ Maria
yêu thánh Giuse. Trước hết là tất cả mối tình âu yếm trong một
trái tim non trẻ và đại lượng của một vị hôn thê, với tất cả những
gì Thiên Chúa đã bí mật đặt vào đấy để chuẩn bị ơn thiên triệu
tương lai của Mẹ. Thánh Giuse đã đáp ứng lại một cách đầy đủ mối
tình âu yếm ấy.
Sau
đấy, khi Thiên Chúa can thiệp vào để thực hiện mầu nhiệm Ngôi
Lời Nhập Thể, Mẹ Maria đã được nâng lên một bình diện cao hơn
với một khả năng yêu mến mới mẻ. Lúc này xảy ra một trạng thái
chênh lệch đau đớn giữa Mẹ Maria và thánh Giuse cho đến ngày thiên
thần đến bộc lộ cho thánh Giuse tất cả bí mật. Dưới tác động của
Chúa Thánh Thần, Chúa đã đào tạo trong Mẹ một trái tim có khả
năng yêu con chẳng những say mê như tất cả các bà mẹ khác mà còn
yêu con như yêu Thiên Chúa của Mẹ. Rồi Mẹ còn yêu bạn trăm năm
của Mẹ hơn nữa, vì nhờ Thiên Chúa mà thánh Giuse trở nên Cha của
con Mẹ. Thiên Chúa là tác giả thiên chức làm Mẹ đồng trinh của
Mẹ, và cũng là tác gỉa thiên chức làm cha tiên tri của thánh Giuse.
Thiên chức làm cha của thánh Giuse không phải là một vinh hàm,
nhưng là một thực tại sâu xa. Thiên Chúa đã đặt vào lòng thánh
Giuse cũng như vào lòng Mẹ Maria chính tình yêu đã làm cho thánh
Giuse yêu Con Ngài. Công việc thần linh này đã nối kết Mẹ Maria
với thánh Giuse một cách vô tiến khoáng hậu.
Giai
đoạn thứ ba là tình yêu nơi lòng Mẹ Maria đã tiến triển trong
khung cảnh là ngôi nhà Nazareth. Sự hiện diện của Chúa Giêsu niên
thiếu, rồi của Chúa Giêsu thành niên đã đem lại cho tình Mẹ yêu
Con một chiều kích mới. Chúa Giêsu đã cho Mẹ chia sẻ cuộc đời
cứu thế với Ngài mà đích điểm là núi Calvario. Mỗi ngày Mẹ Maria
và thánh Giuse tìm ra đươc thêm vẻ phong phú của lòng Chúa Giêsu.
Một
ngày kia Chúa Giêsu sẽ nói với dân chúng khi đề cập đến đàn chiên
của Ngài rằng: “Ta đến để chiên Ta được sống và được sống sung
mãn hơn” (Jn 10.10). Mẹ Maria là người đầu tiên nhận được sự sống
này; Mẹ nhận được với một mức độ dư thừa không ai hiểu nổi. Mẹ
Maria chẳng những có sự sống mà còn có cả nguồn mạch sự sống.
Trong những năm dài dằng dẵng Mẹ sống với Con Mẹ, đời sống thần
linh đã phát triển trong Mẹ một cách không thể tưởng tượng được:
Chúa Giêsu đã đưa đời sống này vào sâu trong lòng Mẹ hơn bất cứ
ai để lòng Mẹ trở nên nơi chứa mọi kho tàng khôn ngoan và thông
hiểu.
Những
gì đã nói về Mẹ Maria cũng phải nói về thánh Giuse như vậy, mặc
dầu nói một cách khác. Thánh Giuse đã thừa hưởng một cách dư thừa
đời sống Con Thiên Chúa mang đến. Ngài cũng có những thử thách,
nhưng nhiều lần Ngài cũng được hưởng những niềm vui đặc biệt.
Bề ngoài Ngài giữ một vai trò lu mờ, không thế giá, nhưng thật
ra hành động của Ngài rất quan trọng nhờ địa vị Ngài chiếm được
bên Chúa Giêsu và Mẹ Chúa. Ai có thể kê ra hết được những gì Chúa
Giêsu và Mẹ Maria đã nhận được từ thánh Giuse?
Mối
tình thắm thiết tốt đẹp ấy giữa Mẹ Maria và thánh Giuse phải chấm
dứt một ngày nào đấy cũng như những mối thân tình nhân loại khác
mặc dầu keo sơn đến đâu đi nữa. Chấm dứt khi nào và cách nào?
Người ta chỉ phỏng đoán. Phúc Âm không nói gì, và truyền thuyết
cũng không rõ ràng. Thánh Giuse được nhắc đến lần sau hết cùng
với Mẹ Maria và Chúa Giêsu hồi tìm thấy Chúa trong đền thờ. Dân
chúng còn nhắc đến tên Ngài khi Chúa bắt đầu đời sống công khai,
như vậy chúng ta có thể cho rằng thánh Giuse đã thi hành xong
sứ mạng của Ngài dưới trần gian này.
Chúa
Giêsu đã khóc ông bạn Lazaro của Chúa, hẳn Chúa và Mẹ cũng khóc
khi thánh Giuse qua đời. Mặc dù biết chắc rằng nhiệm vụ của Ngài
đã hoàn tất và lúc này đây Ngài đang ở gần Thiên Chúa Cha, nhưng
Mẹ cũng vẫn sâu muộn. Mẹ cũng biết nỗi lòng cô đơn và xao xuyến
mà một phụ nữ cảm thấy sau khi mai táng người bạn trăm năm dấu
ái của mình trở về nhà.
Chúa
đã cho Mẹ được chia sẻ nỗi khổ đau và chia ly mà nam giới cũng
như nư giới vẫn phải chịu. Vì thế, Mẹ trở nên Đấng an ủi những
người sâu khổ, và Mẹ của niềm cậy trông cho những ai phải héo
hắt ruột gan vì đời sống.
Nhưng
chúng ta đừng nên cho rằng sau khi thánh Giuse qua đời Mẹ Maria
khép chặt cửa lòng lại và sống trong sầu muộn. Niềm hân hoan sâu
xa hơn nỗi khổ đau, tâm tình nổi nhất trong Mẹ vào thời gian ấy
là tâm tình biết ơn đối với Thiên Chúa vì Ngài đã ban cho Mẹ một
người bạn đời quá tốt lành. Mẹ quen giữ kỹ tất cả mọi sự trong
lòng, nên Mẹ cũng dễ dàng nhớ lại tất cả những gì hoan hỉ và ủi
an mà sự hiện diện mà tình yêu của thánh Giuse đã đem đến cho
Mẹ. Thánh Giuse vẫn còn hiện diện không những bằng kỷ niệm nhưng
bằng một sự hiện diện vô hình. Sau này Chúa Giêsu phán rằng: “Chúa
không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của người sống”
(Mc 12.27).
Bề
ngoài không có gì thay đổi trong nếp sống hằng ngày. Chúa Giêsu
làm lụng, tiếp khách hàng và quán xuyến mọi sự như thánh Giuse
trước kia. Mẹ Maria làm những việc vặt thường xuyên và giao tiếp
với hàng xóm láng giềng. Gặp những lễ trọng Mẹ cũng đi Giêrusalem
như Mẹ vẫn có thói quen. Dân thành Nazareth có thể cho rằng mọi
việc sẽ tiếp tục như trước, nhưng thật ra tất cả mọi việc sẽ thay
đổi.
Một
ngày kia, người ta đồn đại khắp xứ Galilêa rằng: một tiên tri
mới xuất hiện trên bờ sông Jordano. Vị tiên tri ấy làm dân chúng
phải say mê, và gây lo ngại cho những đầu mục Dothái. Mẹ Maria
biết rõ vị tiên tri này, Ngài là Gioan, con bà chị họ Elisabeth,
đã nhảy mừng trong lòng thân mẫu khi nghe tiếng Mẹ chào. Bây giờ
đây ngài loan báo một Đấng quyền phép hơn ngài sắp đến, Đấng Thiên
Sai thiên hạ đợi trông sẽ làm phép rửa trong Chúa Thánh Thần và
trong lửa” (Lc 3.15; Jn 1.26).
Một
ngày kia, Chúa Giêsu thu dọn xưởng thợ và các đồ nghề làm mộc,
Ngài không còn cần các thứ dụng cụ này nữa để đào tạo một thế
giới mới. Lúc ấy Ngài đến sông Jordano gặp Gioan Tẩy Giả. Cuộc
trẩy đi này là dịp để Mẹ Maria tăng triển thêm trong đức tin và
đức phó thác. Tin vào sứ mệnh của Con mình, Mẹ biết chắc rằng
Con mình chỉ làm những việc của Cha trên trời. Mẹ cũng tin vào
sứ mệnh của chính Mẹ. Chúa Giêsu trẩy đi, Mẹ ở nhà cô quạnh một
mình; theo kiểu nói thời nay, Mẹ phải hai lần goá bụa: goá vì
chết chồng, goá vì mất con.
Ở
Nazareth, Mẹ Maria vẫn tiếp tục sống một đời sống thường nhật;
thánh Gioan cho chúng ta biết Mẹ tham dự một đám cưới tại thành
Cana. Chúa Giêsu đã gặp Mẹ tại đây. Khi Chúa đi chỉ có một mình
Chúa nhưng khi Chúa về đã có những môn đệ đi theo. Một trang tiểu
sử Mẹ Maria đã lật qua, và một trang khác đang được bắt đầu viết.
|