|
|
XVII.
NÀY ĐÂY CHÚNG TA LÊN GIÊRUSALEM
Ba
lần Chúa Giêsu đã báo trước một cách rõ ràng cho các môn đệ và
các bạn thân Ngài biết rằng Ngài phải đau khổ nhiều ở Giêrusalem,
và sẽ bị giết ở đấy. Lần thứ nhất trong miền Cesarea, ngay sau
khi thánh tông đồ Phêrô tuyên xưng: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên
Chúa hằng sống”. Chúa Giêsu đã khen vị tông đồ của Ngài, rồi không
nói thêm một câu nào để chuyển tiếp ý tưởng, Ngài đề cập đến nỗi
đau khổ, đến sự chết và việc Ngài sống lại. Thánh Phêrô phản ứng
lại một cách rất tự nhiên: “Thưa Thầy, nỡ lòng nào. Đâu Thầy lại
chịu như thế được!” Chúa quay lại quở trách ông: “Satan, hãy lui
ra đàng sau Thầy, ngươi chăng nghĩ gì đến việc Thiên Chúa mà chỉ
nghĩ đến việc loài người” (Mt 16.21; Mc8.31).
Lần thứ hai xảy ra ở xứ Galilêa. Các môn đệ buồn rầu và không
hiểu, hoặc nói cho đúng ra các ông sợ không muốn hiểu, và cũng
không dám hỏi Thầy (Mt 17.22; Mc 9.31; Lc9.44).
Lần thứ ba Chúa Giêsu báo trước trong cuộc hành trình cuối cùng
lên Giêrusalem. Ngài cho các tông đồ biết đầy đủ chi tiết hơn:
“Này đây, chúng ta lên Giêrusalem. Con Người sẽ bị nộp cho các
trưởng tế và các ký lục; họ sẽ sử tử Ngài và sẽ trao Ngài cho
dân ngoại. Ngài sẽ bị nhạo báng, đánh đòn, đóng đinh vào thập
giá, nhưng ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại” (Mt 20.18; Mc 10.33;
Lc 18.31).
Mẹ Maria có mặt trong những lần Chúa báo trước cuộc tử nạn của
Ngài không? Chúng ta không biết. Nhưng chúng ta có thể cho rằng
Chúa Giêsu không thể không cho Mẹ biết những gì Ngài báo cho nhiều
người khác. Mẹ Maria phải kết hợp với cuộc tử nạn của Con Mẹ,
và nhân danh tất cả chúng ta Mẹ phải chia sẻ cuộc tử nạn với Con
Mẹ. Chúa Giêsu biết những gì Ngài phải chịu để hoàn thành sứ mạng
cứu thế; Mẹ Maria cũng thế, Mẹ được chuẩn bị để tham dự sứ mạng
của Con Mẹ.
Ngay từ ngày dâng hiến Con trong đền thờ Giêrusalem, Chúa Thánh
Thần đã cho Mẹ biết trước rằng Con Mẹ làm cho nhiều người được
hoan hỉ và hy vọng, nhưng sẽ là đích cho nhiều người chống đối;
lòng Mẹ sẽ bị một lưỡi gươm đau khổ xuyên thấu. Mẹ biết được như
thế không phải để Mẹ sống trong sợ hãi lo âu, nhưng để Mẹ nhận
thức được sứ mạng của Con Mẹ và của Mẹ. Thiên Chúa đã không coi
Mẹ là người phản bội, Ngài đã ban cho Mẹ những ơn soi sáng cần
thiết để Mẹ được hoàn toàn tự do thi hành nhiệm vụ của Mẹ.
Đã hẳn, nếu muốn thì Chúa Giêsu có thể tránh cho Mẹ nhiều đau
khổ. Người có thể để Mẹ không biết gì đến những biến cố trong
cuộc thương khó của Ngài. Mẹ có thể ở lại Nazareth, và sau khi
Chúa sống lại Mẹ mới được biết những gì đã xảy ra trong Tuần Thánh.
Nhưng nếu thế thì lại không đúng với kế hoạch của Thiên Chúa.
Các Phúc Âm chỉ nhắc đến Mẹ đứng dưới chân thánh giá, trên đồi
Calvariô, vào ngày thứ Sáu Tuần thánh. Như thế không có nghĩa
là Mẹ vắng mặt những ngày khác, hoặc trong những trường hợp khác.
Các phụ nữ thánh thiện khác cũng vậy, mặc dầu họ không được nhắc
đến nhưng họ vẫn hiện diện. Khi các thánh sử nói đến nhóm Mười
hai, thì con số ấy không phải là con số giới hạn. Đừng bao giờ
kết luận rằng chỉ có nhóm Mười hai mới có mặt ở đấy.
Vì thế, trong cuộc hành trình lên Giêrusalem Chúa Giêsu nói với
nhóm Mười hai như họ là những người duy nhất lắng nghe Ngài loan
báo cuộc tử nạn. Chính lúc ấy, thân mẫu thánh Giacôbê và thánh
Gioan đến can thiệp để xin cho hai con mình được những địa vị
quan trọng trong vương quốc tương lai. Chúa Giêsu nói đến việc
Ngài chết, mà cũng đề cập đến việc Ngài Phục sinh. Người đàn bà
ấy đã xin một ơn, bà ta không hề biết đến vương quốc ấy ra sao,
nhưng bà ta xin cho hai con mình được biệt đãi, và hai người con
cũng chỉ muốn thế. Đã hẳn, không phải chỉ có thân mẫu của các
con ông Zêbêdê. Chắc chắn còn nhiều phụ nữ xứ Galilêa nữa, người
ta sẽ gặp họ trên đồi Calvariô và nơi mồ Chúa. Mẹ Maria có mặt
giữa các phụ nữ ấy, Mẹ hiện diện một cách kín đáo và yêu thương,
Mẹ theo dõi tất cả những gì liên quan đến Con Mẹ. Mẹ cộng tác
một cách xa hoặc gần với Ngài trong những điều Ngài nói và trong
những việc Ngài làm.
Một ngày kia, Chúa tự xưng mình là mục tử tốt lành; “Ngài đến
cho đàn chiên được sống và được sống dồi dào” (Jn 10.10). Ngài
nói thêm Ngài “thí mạng sống mình vì đàn chiên” (Jn 10.11), và
đồng thời Ngài cũng xác định: “Ngài cho đàn chiên được sống vĩnh
cửu” (Jn 10.27).
Khi nói về sự sống, Chúa Giêsu đứng trên hai bình diện tương nhập:
đời sống thể lý Ngài nhận được do Mẹ Maria, và đời sống thần linh
Ngài có được từ đời đời là do Chúa Cha. Đối với đời sống thể lý,
Ngài tuyên bố: “Chẳng ai lấy được mạng sống của Ta, nhưng tự Ta
mà Ta bỏ được mạng sống. Ta có quyền cho đi và cũng có quyền lấy
lại” (Jn 10.18). Đời sống thể lý ấy Chúa Giêsu đã nhận được trong
ngày Ngài nhập thể ở Nazareth, Ngài được tuỳ ý cho đi và có thể
lấy lại được vì sự sống này đã kết hợp với đời sống thần linh
một cách không thể phân ly. Vì thế, Chúa không sợ gì khi phải
xác quyết rằng: “Ta và Cha Ta, chỉ là Một” (Jn 10.30).
Những câu tương tự như trên càng gây nên nỗi công phẫn, và làm
cho sự việc chóng đến hồi kết thúc. Chỉ còn vài ngày nữa là giờ
của Ngài đến, giờ mà Ngài có thể trao nộp mình: “Thầy khao khát
ăn lễ Vượt qua này với các con trước khi chịu nạn” (Lc 22.15).
Chúa Giêsu ngồi vào bàn ăn với các môn đệ của Ngài. Bữa ăn lễ
Vượt qua diễn tiến theo các nghi thức thông lệ. Rồi tất cả các
tập tục đều thay đổi. Chúa Giêsu cầm bánh lên và tuyên bố: “Này
là Mình Ta”, rồi Ngài cầm lấy chén rượu và nói: “Này là Máu Ta”
(Mt 26.26; Mc 14.22; Lc 22.19). Các tông đồ chịu lễ lần đầu, và
được truyền chức linh mục lần đầu tiên. Mãi sau này các tông đồ
mới hiểu được tầm quan trọng của biến cố hệ trọng ấy. Mẹ Maria
có mặt trong buổi lễ chiều ấy không, buổi chiều thân mật và đáng
ghi nhớ, buổi chiều cám ơn và dự liệu. Chúng ta không biết, chúng
ta chỉ biết rằng có thể Mẹ hiện diện trong buổi chiều ấy; nhưng
chúng ta chắc chắn một điều là lòng Mẹ ở đấy. Một căn phòng cao
ráo, rộng rãi, trải thảm, mọi sự đều sẵn sàng, nhưng ai đã dọn
dẹp căn phòng này?
Chúa Giêsu đã nói: “Ta là Bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn
Bánh này sẽ được sống đời đời. Bánh Ta sẽ ban là Thịt Ta nuôi
sống thế gian” (Jn 6.51). Thịt ban để nuôi sống thế gian là thịt
Chúa Giêsu lấy tự cung lòng Mẹ Maria. Tất cả các ân sủng chúng
ta nhận được từ Ngôi Lời nhập thể đều manh nha trong cung lòng
Mẹ Đồng Trinh Maria.
Thánh Bernardo áp dụng vào Mẹ Maria ví dụ ba đấu bột trong Phúc
Âm (Mt 13.33). Trong một lễ Giáng Sinh ngài nói như sau:
“Ngôi Lời, Linh hồn, Nhục thể là ba đấu bột đề cập đến trong Phúc
Âm. Cả ba đều lên men và trở thành Bánh các thiên thần, nuôi sống
loài người, Bánh trao ban tấm lòng. Hạnh phúc cho phụ nữ đựơc
chúc phúc giữa các phụ nữ, cung lòng khiết trinh bà trở nên ló
nướng bánh dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Hạnh phúc, phải!
Hạnh phúc cho phụ nữ đã trộn men đức tin của mình vào ba đấu bột.
Phải, nhờ đức tin bà đã thụ thai, và cũng nhờ đức tin bà đã sinh
con. (Nat 2.4).
Marie Noel đã theo kịp cảm hứng của thánh Bernardo, thi sĩ đã
bắt gặp nguồn thơ lai láng trong nhà thần bí:
Trong bếp lửa nơi căn nhà bé nhỏ,
Ba mươi năm dưới ánh trời dịu hiền,
Maria sống chuỗi ngày triền miên,
Mẹ cặm cụi nướng bánh dòn thơm nưng,
Mẹ cho con bánh ấy.
Maria, ôi Mẹ!
Mẹ cho con bánh ấy.
Con đói bánh Mẹ ban.
Ba mươi năm bánh nướng giờ đã chín,
Con của Mẹ đem đến người đói khổ,
Khắp thị thành cũng như nơi thôn ổ,
Bánh mới tinh, bánh ngát hương tình yêu.
Dọn bánh ấy cho con,
Maria, ôi Mẹ!
Dọn bánh ấy cho con,
Vì con đang lả đói.
|
|