|
|
XVIII.
NÀY LÀ CON BÀ, NÀY LÀ MẸ CON
Trong
nhà Tiệc ly, mặc dầu giờ phút nghiêm trọng, hoặc nói đúng hơn
vì giờ phút nghiêm trọng như thế nên Chúa Giêsu mới nói về hoà
bình và lòng cậy trông: “Lòng các con đừng xao xuyến. Các con
hãy tin cậy Thiên Chúa và các con cũng hãy tin cậy vào Thầy” (Jn
14.1). Chúa Giêsu sắp đi dọn một chỗ cho những người Ngài yêu;
Ngài là “Đường, là sự Thật và là sự Sống” (Jn 6. ). Ngài báo trước
sẽ sai Chúa Thánh Thần đến, và Ngài nói nhiều về Cha Ngài. Mặc
dầu Ngài đang sầu muộn, nhưng Ngài cũng mời gọi các tông đồ hãy
vui lên: “Thầy nói cùng các con như vậy để các con được vui mừng,
và sự vui mừng của các con được trọn vẹn” (Jn 15.12). Sau Chúa
Giêsu không ai biết yêu thương như Mẹ Maria. Mẹ đã sống tất cả
những lời Chúa dạy trong cuộc đàm thoại sau bữa tiệc ly.
Mẹ
có hiện diện bằng thân xác mọi lúc trong cuộc thương khó của Con
Mẹ không? Có thể có, vì Mẹ ở Giêrusalem trong những ngày ấy. Nhưng
nhất là Mẹ đã sống những giây phút đau thương ấy một cách sâu
xa trong lòng Mẹ. Vì thế người ta có lý do mà nói đến lòng cảm
thông. Mẹ hợp nhất với sự thương khó Chúa Giêsu nhờ lòng cảm thương.
Mẹ
Maria cảm thấy trong Trái Tim Mẹ, và trong tất cả con người Mẹ
những đau khổ Chúa phải chịu trong cơn hấp hối ở vườn cây Dầu,
trong lúc Chúa bị bắt, khi Giuđa đến hôn mặt Ngài, các môn đệ
bỏ trốn, Phêrô chối Chúa, những phiên tòa giả mạo, Chúa bị trói,
bị khạc nhổ, bị đánh đòn, phải đội triều thiên gai và được Philatô
giới thiệu với dân chúng: “Ecce homo, Này là Người”, sau cùng
Chúa thiểu não leo lên đồi Calvariô.
Mẹ
Maria không bao giờ cản trở đời sống của Con cực thánh mình. Một
điều đáng khâm phục hơn hết nơi bốn thánh sử là các ngài nhắc
đến Mẹ Chúa Cứu Thế một cách rất dè dặt và kín đáo. Sự dè dặt
và kín đáo này không phải là im lặng và lãng quên, nhưng là một
lời mời gọi tế nhị tìm ra trong Mẹ Maria một thiên chức làm Mẹ
vượt khỏi nhiệm vụ đơn thuần của một phụ nữ sinh con.
Điều
này chúng ta thấy đặc biệt rõ ràng trong Phúc Âm thánh Gioan.
Mẹ có kỳ diệu đến đâu đi nữa thì Phúc Âm thứ tư cũng không hề
nhắc đến thánh danh Mẹ. Nếu suy nghĩ một chút người ta sẽ thấy
rằng thánh Gioan không lưu lại cho chúng ta thánh danh Mẹ Maria,
nhưng ngài đã làm một việc khác tốt hơn là đưa chúng ta vào trung
tâm mầu nhiệm. Như chúng tôi đã nói, sau khi viết: “Ngôi Lời Nhập
Thể”, thánh Gioan cho chúng ta thấy Mẹ Maria hiện diện trong hai
cơ hội quyết định của cuộc đời Chúa Giêsu, lúc khởi sự cuộc đời
công khai của Chúa ở tiệc cưới thành Cana, và lúc Chúa hấp hối
trên núi Calvariô.
Trong
hai trường hợp trọng đại này, thánh Gioan đã dùng tước hiệu Mẹ,
và Chúa Giêsu đã gọi người sinh ra mình là Bà. Mẹ Maria đích thực
là Mẹ, là Mẹ thật của Ngôi Lời nhập thể. Ơû Cana cũng như ở Calvariô,
khi nói với Mẹ, Chúa đã gọi Mẹ là Bà. Mẹ Maria thật sự là Bà theo
tất cả ý nghĩa của từ ngữ, Mẹ là Bà tuyệt vời.
Sau
khi nói rằng Ngôi Lời Aùnh Sáng và sinh lực đã nhập thể, thánh
Gioan thấy không cần phải xác định việc thụ thai là việc của Chúa
Thánh Thần, chứ không phải là của một nam nhân, và sinh con mà
vẫn còn đồng trinh. Aùnh sáng không làm vỡ một vật mà ánh sáng
chiếu qua. Mẹ Maria đã tiếp nhận trong cung lòng Mẹ ánh sáng hằng
sống, Ngôi Lời, Mẹ đã lấy xác thịt chúng ta mặc cho ánh sáng và
sinh ánh sáng ra để ánh sáng trở nên ánh sáng của nhân loại.
Ở
Cana, Chúa Giêsu phán rằng giờ của Ngài chưa đến. Giờ của Ngài
là sự thương khó, giờ mà Ngài sẽ hiến mạng sống mình để thế gian
được cứu độ và được sống. Nơi khác Chúa nói về giờ của người phụ
nữ sinh con. Lúc này đây giờ của Chúa Giêsu đã tới, và cũng là
giờ của người phụ nữ. Mẹ Maria đứng dưới chân thánh giá Chúa Giêsu.
Mẹ dâng hiến mình cùng với Chúa để cứu chuộc thế gian.
Mẹ
Maria chứng kiến tất cả những gì được chuẩn bị để đóng đinh, Mẹ
nghe thấy những tiếng búa đóng vào tay chân Con mình. Mẹ nhìn
thánh giá được dựng lên trên nền trời rồi cắm phập xuống lỗ đào
dưới đất. Mẹ thấy người ta xỉ mạ Chúa và cũng lăng nhục Mẹ. Mẹ
thấy quân lính chia nhau áo Chúa, còn áo dài thì bắt thăm.
Thánh
Gioan cho chúng ta biết chiếc áo dài này: “Không có đường chỉ
may, và được kết liền từ trên xuống dưới” (Jn 19.23). Chiếc áo
dài không có đường chỉ may được coi là hình bóng Giáo hội. Binh
lính đánh giá tấm áo, và không dám cắt chia với nhau. Họ quyết
định bắt thăm để xem ai được. Truyền thuyết cho rằng chiếc áo
dài không đường chỉ may đã được chính Mẹ Maria dệt nên. Đấy là
chiếc áo dài tư tế, giống như chiếc áo dài mà thày trưởng tế mặc
trong nhiều dịp. Người ta có thể cho rằng chiếc áo dài quý giá
ấy được dùng lần đầu tiên trong nhà Tiệc ly khi thành lập Bí tích
Thánh Thể.
Mẹ
Maria nghe thấy tất cả những điều Chúa Giêsu phán trên cây thánh
giá. Khi Ngài phán: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết
việc họ làm” (Lc 23.34), chắc hẳn Mẹ cũng phải cầu xin như thế.
Mẹ can thiệp cho tất cả những ai đã nhúng tay vào vụ lên án người
công chính. Không phải Mẹ chỉ can thiệp cho các ký lục, nhóm người
Pharisiêu, Giuđa, Caipha và Philatô, nhưng Mẹ còn can thiệp cho
tất cả chúng ta nữa. Mẹ phải nài xin một cách đặc biệt ơn tha
thứ cho những lý hình, những người chỉ biết thừa hành lệnh trên.
Mẹ
được vui mừng khi nghe thấy một trong hai tên trộm thưa với Chúa
Giêsu: “Lạy Ngài Giêsu, khi nào về nước Ngài xin nhớ đến tôi cùng”
và khi Chúa Giêsu trả lời anh ta: “Thật, Ta bảo thật cho ngươi,
ngay hôm nay ngươi sẽ được ở nơi vui vẻ cùng Ta” (Lc23.42). Sau
đấy, Chúa Giêsu nhìn xuống một nhóm bạn hữu đang đứng dưới chân
thánh giá, và phán những điều lạ lùng. Ngài không thốt lên lời
an ủi, không kêu gọi ai giúp đỡ hoặc xót thương đến Ngài. Chúa
không nói gì với bà Madalêna, Ngài không ban cho các người thân
của Ngài một lời chỉ giáo nào. Nhưng không, Ngài để lại cho thế
giới lời di chúc của Ngài.
Ít
phút trước khi tắt hơi, Chúa Giêsu không nói với Mẹ Maria và môn
đệ Gioan, nhưng nói với Mẹ Ngài và môn đệ Ngài. Trông thấy Mẹ
Ngài, Chúa liền phán: “Thưa Bà, này là con Bà”. Rồi Ngài lại phán
với môn đệ: “Này là Mẹ con”. Chúa Giêsu được gọi là con loài người,
nên Ngài gọi Mẹ Ngài là Bà vì vào lúc ấy là giờ của Ngài, giờ
mà Mẹ Maria sắp chia sẻ việc đản sinh ra một thế giới mới. Giờ
này là giờ của người phụ nữ. Lúc này đây cuộc thương khó của Ngài
chấm dứt, Giáo hội được sinh ra, Gioan chỉ là một môn đệ của Chúa
Giêsu, Gioan trở nên em của Ngài và con của Mẹ Ngài. Câu “Này
là Mẹ con” không phải chỉ có nghĩa là “hãy săn sóc Mẹ Cha như
Mẹ con”, nhưng còn hiểu được rằng “bây giờ Mẹ là Mẹ con, con hãy
đối xử với Mẹ như thế”.
Gioan
là tông đồ duy nhất hiện diện dưới chân thánh giá. Chính Gioan
nhận lời di chúc của Chúa Giêsu nhân danh các Tông đồ khác. Chúa
Giêsu đã trao Mẹ cho thánh Gioan và đã trao Gioan cho Mẹ. Lời
Chúa bao giờ cũng sáng tạo; Lời Chúa cho thấy những gì là hiện
hữu, và làm nảy nở những gì còn đang manh nha. Từ lời Fiat, xin
vâng, thưa ngày Nhập Thể Mẹ đã là Mẹ một cách tiềm thể của tất
cả những ai một ngày kia sẽ là anh em của Con Mẹ. Trên cây thánh
giá, vào lúc sinh thì Chúa Giêsu đã xác quyết lại trước mặt mọi
người thiên chức làm Mẹ của Mẹ, đồng thời cũng xin Mẹ Maria lãnh
lấy trách nhiệm dắt dìu Gioan, và dắt dìu tất cả những người được
Gioan đại diện. Sáng ngày Phục sinh, Chúa Giêsu sẽ phán cùng bà
Madalêna rằng: “Hãy đi gặp các anh em Ta!” (Jn 20.17). Người ta
không thể là anh em thật của Chúa Giêsu nếu người ta không phải
là con của Mẹ Ngài.
Sau
đấy, Chúa Giêsu trải qua giây phút bị ruồng bỏ và quạnh hiu. Ngài
đã trao hết, Ngài chỉ còn lại một thân, một mình: “Lạy Thiên Chúa,
lạy Thiên Chúa con, nhân sao Ngài lại bỏ con?” (Mt 27.46; Mc 15.34).
Rồi một cơn khát cháy cổ hành hạ Ngài, Ngài kêu lên: “Ta khát!”
(Jn 19.28). Cơn khát ấy, Mẹ Maria biết, nhưng Mẹ không liệu được
cách nào làm giảm được cơn khác cho Chúa. Quân lính chỉ có thể
đưa dấm chua cho Ngài uống. Chúa Giêsu khát các linh hồn, khát
phần rỗi thế gian; Ngài khát để chúng ta cũng đựơc khát khao Ngài.
Chúa
Giêsu phán thêm một câu bí mật như sau: “Mọi sự đã hoàn tất” (Jn
19.30). Tất cả các lời tiên tri đã hoàn tất, tất cả những gì Cha
Ngài yêu cầu đã hoàn tất, và sứ mạng của Ngài cũng đã hoàn tất.
Vì thế, Ngài hoàn toàn phó thác, Ngài triệt để tin tưởng: “Lạy
Cha! Con phó thác linh hồn trong tay Cha” (Lc 23.46). Rồi Ngài
tắt thở.
Sau
đấy thánh Gioan kể lại quân lính đến đánh dập ống chân những người
bị đóng đanh để hạ xác xuống trước khi bắt đầu ngày đại hưu lễ:
“Khi đến gần Chúa Giêsu họ thấy Ngài đã chết rồi thì không đánh
dập ống chân Ngài nữa. Song một tên lính lấy đòng đâm vào cạnh
sườn Ngài, lập tức có máu và nước chảy ra” (Jn 19.33). Binh sĩ
Roma đã đâm nhát đòng ấy vào giữa Trái Tim Mẹ Maria. Mẹ nhớ lại
lưỡi gươm đau khổ mà cụ già Simêon đã tiên báo cho Mẹ trong đền
thờ Giêrusalem.
Suy
ngắm về Mẹ Đồng Trinh Maria đứng dưới chân thánh giá, thánh Bernardo
tìm ra được trong thái độ của Mẹ một cử chỉ cao thượng. Tâm hồn
cao thượng đã kết hợp với đức khiêm nhu thẳm sâu. Trong bài giảng
thuyết về “Mười hai ngôi sao”, ngài chứng tỏ việc tử đạo của Mẹ
dưới chân thánh giá được coi như là ngôi sao thứ mười hai trên
triều thiên của Mẹ:
“Thật
vậy, thưa Mẹ diễm phúc, một lưỡi gươm đã đâm thấu tâm hồn Mẹ:
và lại lưỡi gươm chỉ có thể thâu qua hồn Mẹ mời đâm vào thân xác
Con Mẹ đựơc. Đàng khác, khi trút linh hồn thì Chúa Giêsu là của
Mẹ – Ngài thuộc về mọi người, nhưng đặc biệt Ngài thuộc về Mẹ
– lưỡi đòng độc ác không đâm thấu linh hồn Ngài được khi mở cạnh
sườn Ngài, nhưng đã đâm qua linh hồn Mẹ…
Có
lẽ có người sẽ vấn nạn rằng: “Mẹ không biết trước Chúa sắp chết
hay sao? Mẹ biết chứ! Mẹ không hy vọng thấy Chúa phục sinh nay
mai hay sao? Mẹ tin tưởng như thế. Nếu thế thì Mẹ có chịu đau
khổ dữ dằn. Quả thật, bạn là ai, và tại sao bạn được khôn ngoan
để bỡ ngỡ như thế về sự cảm thương của Mẹ hơn là về sự thương
khó của Con Mẹ? Chúa Giêsu có thể chết đi bằng cái chết của thân
xác, còn Mẹ Maria, Mẹ chỉ có thể chết đi được bằng cái chết của
tâm hồn. Nơi Chúa Giêsu, chính tình yêu hoạt động, tình yêu không
ai vượt thắng nổi. Nơi Mẹ Maria, cũng chính tình yêu, sau tình
yêu Chúa Giêsu thì không có một tình yêu nào sánh bằng tình yêu
của Mẹ” (No 15).
|
|