THÁNH PHÊRÔ PHẠM VĂN THI
(1893-1939)
Linh Mục
Cha
Phêrô Phạm Văn Thi sinh năm 1763 tại Kẻ Sở, huyện Thanh Liêm,
tỉnh Hà Nội, trong một gia đình rất đạo đức. Ngài có cháu ruột
cũng tử vì đạo là Thánh Ðường.
Vì
cha mẹ nghèo, từ nhỏ cậu Thi phải đi chăn trâu cho nhà dòng
ở Kẻ Ðầm cũng thuộc một nhà Kẻ Sở. Các bà thấy cậu Thi có nết
na lễ độ thì xin cha xứ nuôi và cho vào nhà Ðức Chúa Trời. Năm
ấy cậu được 12 tuổi. Sau nhiều năm học La tinh trong nhà tràng,
cậu Thi được chính thức nhận vào bậc kẻ giảng năm 1796. Thầy
Thi sốt sắng và nhiệt thành với bổn phận, lại có nhiều năng
khiếu nên được bề trên gọi về học thần học và chịu chức linh
mục ngày 22-3-1806. Năm ấy cha được 43 tuổi.
Trước
hêt Cha Thi được bổ nhiệm coi xứ Sông Chảy thuộc vùng Hưng-Tuyên.
Ngài ở đó 27 năm cho đến năm 1833. Giáo dân đã làm chứng về
ngài như sau: “Cha Thi là người nhân đức khác thường, mỗi ngày
ngài đọc kinh lâu giờ ba bốn lần, làm lễ nghiêm trang, hay bị
sốt và đau bụng, có nhân đức tiết kiệm, khắc khổ trong việc
ăn uống và thường ăn chay các ngày thứ Sáu”.
Ðức
Cha Phó Jeantet (Du) cũng khen Cha như sau: “Tôi quen biết Cha
Thi từ năm 1835 và rất thán phục cha là người phúc độ sốt sắng,
trung thành tuân giữ các luật chung, hiền lành và khôn ngoan.
Ðặc
biệt Cha Thi trổi trang về nhân đức khó nghèo và muốn cho mọi
người khác cũng bắt chước yêu chuộng nhân đức ấy. Cha chỉ mặc
áo vải nâu và đội khăn sồi mà thôi. Tại nhà xứ, mọi người trong
nhà phải giữ phép tắc, chăm chỉ học hành, đọc sách và không
được chuyện trò lâu với đàn bà. Chính Cha Thi khi tiếp khách
cũng rất mực khiêm tốn, ít lời, nhưng với các cha khác thì ngài
vui vẻ vồn vã hơn. Mỗi năm ngài chỉ ở trong xứ hai tháng, còn
lại đi thăm các họ lẻ, sốt sắng dạy dỗ và khuyên bảo con chiên
bổn đạo. Có một lần đi làm phúc ở họ Thác Ba ngài bị đắm thuyền,
người giúp việc chết đuối nhưng ngài nhờ ôm hòm đồ lễ đã thóat
nạn.
Năm
1833, Cha Thi đã 70 tuổi được bề trên đổi về Kẻ Sông trong sự
nhớ nhung của bổn đạo xứ Sông Chảy. Thời kỳ này có cuộc bắt
đạo dữ dội, Cha Thi phải trốn ẩn trong nhà giáo dân không thể
đi làm phúc được. Nhiều khi người ta không dám mời ngài đi giúp
bệnh nhân sắp chết vì sợ ngài bị bắt, nhưng ngài bảo họ phải
liệu mọi cách để giúp người sắp chết, còn nếu Chúa muốn cho
phải chịu khổ vì đạo thì hoàn toàn phó thác theo ý Chúa. Dù
tuổi cao sức yếu và hay bị bệnh Cha Thi vẫn không bao giờ kêu
ca, mà vẫn luôn yên ủi và niềm nở với mọi người. Ngài ở Kẻ Sông
được 7 năm thì ý Chúa muốn cho Cha được làm chứng nhân lời chân
thật ngài đã rao giảng bằng cái chết anh hùng vì đức tin.
Cha
Dũng (Lạc) ở xứ bên cạnh thường sang gặp Cha Thi để bàn hỏi
và xưng tội. Ngày 10-11-1839, hai cha đang ở nhà ông khán Hộ
thì ông lý trưởng Pháp cùng với bốn gia nhân đến bắt. Lúc bấy
giờ là giữa trưa. Hay tin, Cha Thi vội đi trốn vào phòng riêng
nhưng Lý Pháp đã theo sát ngài và bắt ngài trói lại. Cha Dũng
bị bắt luôn. Sau một hồi lâu Lý Pháp cởi trói cho hai cha và
mời cùng ngồi để đàm luận. Lý Pháp bắt đầu nói với hai cha:
“Tại sao có lệnh vua cấm đạo rồi mà các ông cứ lét lút dạy đạo?”
Cha
Thi đáp: “Thiên Chúa sai chúng tôi đi để dạy người ta tập tành
nhân đức làm việc thiện, tôn kính cha mẹ. Ðạo chúng tôi không
dạy điều gì sai trái cả”. “Dù đạo phải hay trái, không thành
vấn đề, nhưng có lệnh vua cấm thì tôi bắc các ông”.
Các
ngài đáp lại điều đó tùy ý quan. Tuy nói là lệnh vua cấm nhưng
ông lý trưởng đã đề nghị nộp cho ông 300 quan tiền ông sẽ trả
tự do. Các cha nói với ông điều đó tùy giáo dân. Quan cho gọi
người đứng đầu trong họ đạo để dàn xếp nội vụ. Giáo dân chỉ
có 200 quan để nộp nên ông chỉ trả tự do cho Cha Lạc, còn bắt
Cha Thi. Khi trở về, Cha Lạc lại bị bắt lần nữa khiến ông lý
trưởng sợ lộ tẩy đã phải giải Cha Thi về huyện quan Bình Lục.
Trên đường hai cha gặp lại nhau trong cảnh tù đày.
Quan
huyện được giáo dân đút lót chút đỉnh nên làm tờ phúc trình
bắt được các cụ ở ngoài đồng để giáo dân không ai bị liên lụy.
Thấy Cha Thi có tuổi mà trời rất lạnh, quan huyện mới hỏi Cha
Thi xem có chăn đắp không thì người lính nói thay là Lý Pháp
đã lấy rồi. Quan truyền lệnh phải trả chăn lại cho cụ Thi. Quan
huyện tiếp đón ngài rất tử tế, mời các ngài ngồi trên phản có
chiếu sạch. Khi giáo dân dọn cơm thì quan bắt lấy mâm của mình
mà dọn cho các ngài. Sau ba ngày, quan huyện giải hai cha về
Hà Nội, có đông giáo dân theo khóc lóc. Thấy vậy quan huyện
nói: “Ðạo dạy những gì mà giáo dân thương tiếc các cụ như thế?”
Một
bà đạo đức đứng gần thưa lại quan: “Bẩm quan lớn, các cụ dạy
chúng tôi những điều nhân đức, chồng phải hiền lành, đừng cờ
bạc, rượu chè, còn vợ thì phải biết nhịn nhục, vâng lời chồng”.
Vì
Cha Thi đã nhiều tuổi không đi được nữa, quan bảo giáo dân thuê
cáng mà mang ngài. Trước khi lên đường quan huyện còn giết heo
cúng tế trời đất và biện bạch: “Không phải lỗi tại tôi muốn
bắt bớ những người hiền lành mà chỉ vì tôi phải theo lệnh. Xin
án phạt có xuống thì xuống trên người ra lệnh”.
Ngày
16-11, Cha Thi được giải đến Hà Nội và giam trong trại gần cửa
đông, không phải ở chung với các tù phạm khác. Các tên lính
canh cũng rất tử tế với các ngài, chúng nói: “Chúng tôi biết
hai cụ không phải như các tù nhân khác. Hai cụ hiền không nghĩ
đến việc trốn đi nên chúng tôi chẳng dám làm khổ các cụ”.
Vì
thế Cha Thi không phải mang gông cùm bao giờ, còn Cha Dũng (Lạc)
phải mang gông có ba tối. Thức ăn giáo dân mang đến hai cha
cũng chia sẻ cho lính canh. Mỗi ngày hai buổi các cụ đọc kinh
chung với nhau. Có ba Ro thuộc nhà dòng Kẻ Uối và tổng Thìn
lo săn sóc các việc vật chất cho hai ngài.
Hai
cha phải tra hỏi ba lần. Phần Cha Thi vì già và nghễnh ngãng
nên Cha Dũng thưa thay. Quan huyện cũng bẩm với quan thượng
rằng: “Hai thầy đạo thà chịu chết chứ không bước qua ảnh đạo,
tôi đã thúc ép hai lần ở dưới huyện mà không thành công. Hai
người thật thà xin quan lớn thương”.
Lần
thứ ba quan thượng bảo hai cha quá khóa nhưng các ngài không
chịu, một tên lính liền đẩy Cha Dũng ngã xuống. ChaThi vì già
vẫn ngồi yên liền sấp mình xuống ôm chân thánh giá.
Trước
lòng kiên quyết của các ngài, quan làm bản án tử hình cho các
ngài như sau: “Sau khi họp hội đồng, các thần là Nguyễn Phúc
Hoan, quan hộ, và Lương Mộc Quang, quan án, đã xem xét kỹ lưỡng
hai tội phạm Trần An Lạc và Phạm Văn Thi đã theo tà đạo từ thuở
nhỏ và dụ dỗ lê dân. Họ đã ghi khắc sâu đạo lý sai lầm từ lâu
chứ không phải một vài ngày. Hoàng thượng đã ra nhiều chỉ dụ
cấm dạy dỗ dân chúng đạo này và bắt từ bỏ những thói tục sai
trái, thế nhưng họ chẳng những đã không tuân lệnh mà còn tàng
trữ sách đạo và ẩn trốn cho đến ngày bị bắt. Ðược khuyên bảo
bước qua ảnh họ vẫn một mực cố chấp xin được chết hơn là làm
điều này. Hiển nhiên là đạo này đã ăn sâu vào tâm hồn chúng.
Chúng thần xét nghĩ là họ đáng chết theo như luật quốc gia đã
định rằng kẻ nào tàng trữ sách quấy phá, hoặc dạy dỗ thực hành
quái lạ thì phải giam trong ngục cho đến khi được định thể khác.
Vậy đối với hai tội phạm Trần An Lạc và Phạm Văn Thi các thần
muốn áp dụng khoản luật vừa nói nhưng chúng đáng chịu một hình
phạt nặng nề hơn, phải chém đầu để răn bảo những người khác”.
Ðể
chuẩn bị cho ngày được dâng mạng sống mình vì đức tin, Cha Thi
thường xuyên đọc kinh cầu nguyện và ăn chay hãm mình mỗi tuần
4 ngày. Ngày 21-12 cha được rước Mình Thánh lần cuối cùng do
Cha Trân mang vào. Giữa trưa hôm đó có người lính báo rằng bản
phê án của vua đã tới. Cha Thi nói ngay: “Ðúng là án của chúng
tôi rồi”.
Tức
thì Cha và Cha Dũng phân phát cho lính canh các đồ dùng còn
lại. Ngay sau đó ông lãnh binh đã đem lính đến nhà giam để dẫn
giải các ngài đến pháp trường. Cha Thi vì yếu đã ngã trên đường.
Lúc ấy có một tên lính đến nói nhỏ mình cũng là người tín hữu
Kitô xin được cõng Cha trên lưng. Cha Thi đã cởi đôi xăng đan,
một đồ dùng cuối cùng và cho anh ta. Tới Ô Cầu Giấy, Cha Thi
quì cầu nguyện trên chiếc chiếu do các bà dòng đã trải sẵn.
Ngài cầu nguyện và dáng điệu vững vàng hơn bao giờ hết. Trước
khi hành quyết, quan giám sát truyền lệnh cấm không ai được
thấm máu tử tù và khi có hiệu thì phải chém đồng loạt. Khi hiệu
vừa ban ra, tên lý hình điêu luyện đã chém cổ ngài vừa khít
để lại một chút da treo đầu trên cổ để giáo dân dễ dàng ráp
lại. Nhưng quan lại bắt phải lấy hẳn đầu ra rồi ông và đoàn
tùy tùng mới rút lui.
Giáo
dân thu xác Cha Thi lại đem về an táng tại Kẻ Sở. Tên lý trưởng
đã bắt Cha Thi về sau bị Chúa phạt hóa điên, còn cô con gái
lấy khăn thánh may yếm để mặc đã bị thổ tả chết một ngày sau
khi mặc yếm vào người.
(Trích
“Giòng Máu Anh Hùng”)