|
|
| |
Biên soạn:
Rev. John, CMC |
|
Đấng
Đáng Kính
Anrê Beltrami,
S.D.B.
Tận
tụy hết khả năng để phục vụ
ngành giáo dục. (1870-1897)
Với trí thông minh và thân hình đẹp trai, Anrê
Beltrami thật có lý để tự tin và có quyền
hy vọng là chàng sẽ thành công mỹ mãn trên đường
sự nghiệp. Nhưng Anrê có cái nhìn nào đối
với ước mộng và sự hãnh diện
đó? Chàng đã cho mộng ước của
đời mình là "hư danh," còn đối
với sự kiêu ngạo của mình, chàng viết,
"Đối với tôi, mối cản trở
chính cho đường thánh thiện là kiêu ngạo.
Tôi sẽ chiến thắng nó". Dù vậy, trong
cuộc chiến đấu giữa những giá
trị trần tục và giá trị đạo
đức, tâm hồn Anrê đã phải trải
qua một cơn phiền muộn trong khi tìm kiếm
một hướng đi cho cuộc đời.
Với sức mạnh của tinh thần cầu
nguyện, Anrê đã vượt qua được
những ngày tháng chiến đấu cam go đó.
Sau cùng, Anrê đã đi đến quyết định
là chàng phải dùng những tài năng Trời
cho để phụng sự Chúa trong việc phục
vụ những người nghèo trong Tu hội
Sa-lê-diêng. Trước mắt thế gian, tu hội
này chẳng có gì khác để cho các phần tử
ngoài sự nghèo khó cùng cực, và một đời
hầu như không ai biết đến trong việc
dạy dỗ các học sinh trung và tiểu học.
Nhưng trên phương diện tinh thần, Anrê
nhận thấy tu hội này đã tạo cho chàng
một cơ hội để đạt tới
sự thánh thiện. Mối tham vọng của
chàng là "trở nên một vị thánh, và phải
thật mau chóng."
Anrê Beltrami sinh ngày 24 tháng 6 năm 1870, tại một
làng nhỏ gần bờ hồ Orta, nước
Ý. Trong những năm đầu, Anrê học tại
trường làng, sau đó gia nhập trường
thương nghiệp tại viện đại
học Conti ở Omegna. Dù Anrê được điểm
cao, ngành thương mại cũng không mấy
hấp dẫn đối với chàng.
Ngay từ tuổi ấu thơ, Anrê đã có một
tấm lòng thật quảng đại, và thêm
vào đó, là một người có ý chí mạnh
mẽ và quả quyết; nhưng Anrê cũng lại
rất dễ nổi nóng. Dù vậy, nhờ ảnh
hưởng của các giáo sư tu sĩ Dòng Sa-lê-diêng,
Anrê đã tận lực cố gắng để
có thể hoàn toàn tự chủ được.
Từ từ, nhờ lòng sùng kính và yêu mến đặc
biệt đối với Mẹ Maria, một
tinh thần tuân phục và kiên nhẫn thẳm
sâu đã thay thế cho những lỗi lầm
của thời niên thiếu. Tại trường
đại học, Anrê luôn đứng đầu
lớp. Khả năng lãnh đạo bẩm sinh
đã làm cho Anrê đương nhiên trở thành
mẫu gương và có ảnh hưởng không
thể chối cãi trên các sinh viên khác.
Đến năm 16 tuổi, Anrê quyết định
trở thành một linh mục Dòng Sa-lê-diêng. Chính
Anrê đã viết, "tham vọng của tôi là
sẽ tận tâm tận lực trong việc phục
vụ những trẻ em cùng cực, những
trẻ vô học nhất và bị hất hủi
nhất". Ngày 4 tháng 11 năm 1886, Anrê là một
trong 100 tập sinh được mặc áo Tập
trong nghi thức nhập tập viện sau cùng
do Cha Thánh Don Bosco chủ sự. Vị Linh mục
lão thành đã nhắc từng tập sinh, trong
khi ngài trao áo dòng cho từng người, "Hãy
cởi bỏ con người cũ, và mặc
lấy con người mới".
Dù đã vào tập viện, Anrê vẫn không ngừng
phải chiến đấu. Ở đây, Thầy
phải chiến đấu trong việc thanh tẩy
tâm hồn khỏi những ước muốn
trần tục để có thể hoàn toàn lo phụng
sự một mình Thiên Chúa. Trong quyển sổ
của Thầy, Thầy đã viết những
lời quyết định sau đây, "Tôi
sẽ không bao giờ nói về mình... Tôi sẽ
không tự quả quyết ý kiến của tôi
là hay... Tôi sẽ không nói lại khi bị khinh
thường... Tôi sẽ xin Bề trên sửa
bảo tôi không cần phải nương tay,
cả khi ở nơi công cộng..". Tôi nhất
quyết. Tôi nhất quyết. Tôi nhất quyết.
Thái độ tích cực đó của Thầy
Anrê đã trở thành tiêu chuẩn cho cuộc đời
Thầy.
Cha giám tập đã có nhận xét sau đây về
Thầy Anrê, "Đức khiêm nhu của Thầy
thật là chân thành. Không một chút tự ái, Thầy
đã thực tâm tự trách vì những lầm
lỗi của mình. Thiên Chúa đã để cho
Thầy Anrê phải trải qua nhiều gian nan
thử thách thật lớn lao. Những thử
thách đó đã làm cho Thầy phải đau khổ
rất nhiều, nhưng với sự trợ
lực của ơn thánh, Thầy đã lướt
thắng tất cả và vẫn tiếp tục
cuộc chiến với một lòng can đảm
không hề nao núng".
Được hướng dẫn bởi một
khát vọng muốn hiểu biết, Thầy Anrê
bắt đầu học thần học. Những
điều Thầy học được trước
kia về văn chương giờ đây trở
thành nền tảng vững chắc giúp Thầy
dễ dàng hơn trong việc học triết
học và nhân chủng học. Trong hai năm chuyên
tâm học tập, Thầy đã tỏ ra là một
sinh viên ưu tú tại Đại học Turinô.
Ngay khi còn đang trong thời gian học, Thầy
đã được nhờ giúp những sinh viên
khác về văn chương và triết học.
Sau này, Thầy dạy triết tại Valsalice,
dạy Latin và Ý ngữ cho các tập sinh tại
Foglizzo. Thầy hăng say làm việc và học
hành đến nỗi Thầy đặt hết
tâm hồn vào đó. Vì quá kiệt sức, vào mùa
hè năm 1888, Thầy phải về nghỉ tại
một trường của Dòng tại Lanzo.
Trong kỳ nghỉ đó, Thầy Anrê đã có
dịp kết thân với một tu sĩ cùng Dòng.
Mẫu gương thánh thiện của người
bạn đồng tu đó đã có một ảnh
hưởng lớn trên Thầy. Thầy Anrê và
Thầy Augustô Czartoryski, thuộc hoàng tộc Balan,
đã trở nên đôi bạn thân, một tình
bạn siêu nhiên vượt trên mọi tình bạn
tự nhiên khác. Lúc này, Thầy Augustô đang trong
thời gian chữa bệnh phổi; vì thế,
rất có thể Thầy Anrê đã bị nhiễm
lây bệnh này qua những giao tiếp với Thầy
Augustô.
Đến năm 1891, Thầy Anrê mắc phải
chứng bệnh xuất huyết ở phổi,
nhưng Thầy vẫn có thể hoàn tất chương
trình thần học. Mặc dù biết rõ bệnh
trạng của mình, Thầy từ chối không
chịu dưỡng bệnh, trái lại vẫn
cố gắng tiếp tục hoạt động
bao lâu còn có thể. Vì nhận thấy con người
tu sĩ trẻ này không còn nhiều thời giờ
để sống, Bề trên Dòng đã xin và được
phép chuẩn đặc biệt để Thầy
được lãnh chức linh mục trước
tuổi ấn định. Thầy Anrê thụ
phong linh mục ngày 8 tháng 11 năm 1893 tại Turinô,
trong một nhà nguyện tư, nơi Cha Don Bosco
vẫn thường dâng Thánh Lễ trong cơn
bệnh cuối cùng của Ngài.
Nguồn vui Cha Anrê được hưởng
trong ngày thụ phong đã theo Cha trong suốt 4
năm cuối cùng của cuộc đời,
đến nỗi mọi người chung quanh
đều có thể cảm nhận được
điều đó. Cho dù sức khoẻ đang
tàn dần, Cha vẫn tiếp tục dâng Thánh Lễ
hằng ngày và chu toàn mọi bổn phận thiêng
liêng theo luật Dòng. Thêm vào đó, Cha đã dùng
nhiều giờ để tôn thờ Chúa Giêsu Thánh
Thể, và tự hiến như của lễ
đau khổ dâng lên Chúa để cầu nguyện
cho các linh hồn tội lỗi. Dù rất đau
đớn mỗi khi lên cơn ho, Cha vẫn cố
hết sức che dấu điều đó.
Thêm vào những công việc trong Dòng, Cha Anrê tiếp
tục viết một số tác phẩm, đặc
biệt là sách truyện các Thánh. Trong số đó,
đặc biệt hơn cả là hạnh thánh
Magarita Maria Alacoque, Thánh Gioan Baptist de la Salle, và Thánh
Stanislao Kostka. Tác phẩm "Rạng đông của
các Vì Sao" của Cha trình bày đời sống
thời niên thiếu của 33 vị thánh anh hùng.
Cuốn tiểu sử của Cha về Napolêon,
được xuất bản sau khi Cha qua đời,
đã được liệt vào danh sách những
tác phẩm học sinh trung học nên đọc.
Trước khi qua đời, Cha đã bắt
đầu viết một bài bình luận về
toàn bộ tác phẩm của Thánh Phanxicô Salê.
Đến cuối tháng 12 năm 1897, mấy lần
bị xuất huyết đã báo hiệu cho Cha
biết số ngày trên trần gian của Cha gần
hết. Trong cuốn nhật ký của Cha, trong
ngày Cha qua đời có ghi lại những lời
sau đây: "Suốt năm tiếng đồng
hồ tôi đã quỳ trước Nhà Chầu
nài xin ơn cải thiện cho các tội nhân và
mọi người ngoại đạo. Trong tâm
hồn, tôi đang hiện diện trên đồi
Golgotha, nài xin năm Vết Thương của
Chúa Cứu Thế trở nên những mạch
suối tình thương tràn chảy khắp năm
châu".
Sáng sớm ngày 30 tháng 12 năm 1897, sau một cơn
đau tim, Cha Anrê đã từ biệt cõi đời.
Tiến trình phong thánh cho Cha Anrê đã được
tiến hành mau chóng. Cuộc điều tra cấp
giáo phận đã bắt đầu năm 1911.
Đến năm 1939, Dòng Sa-lê-diêng chính thức
đệ đơn xin phong thánh cho Cha. Ngày 15 tháng
12 năm 1966, Cha Anrê Beltrami được nâng
lên bậc Đáng kính.
|
|