|
|
| |
Biên soạn:
Rev. John, CMC |
|
Chân
Phước Angela
Truszkowska, C.S.S.F
Một
đời phục vụ những người
nghèo khổ và bị bắt bớ. (1825-1899)
Vừa nghe thấy tiếng đập cửa,
Mẹ Angela vội vã chạy ra mở cửa;
đứng ngoài cửa là một anh lính trẻ
đang kinh hoàng đến cực độ. Vừa
thấy Mẹ, anh liền nài xin: "Xin Sơ
cho con chỗ để ẩn núp". Không đủ
giờ để đem anh lính này đến nơi
chốn an toàn trong hốc tường đặc
biệt, vì Mẹ đã nghe thấy tiếng giầy
của công an đang chạy ngoài đường.
Mẹ nói với anh, "Theo tôi ngay!" Dừng
lại trước những thùng rác lớn, Mẹ
bảo anh nhảy vào thùng lớn nhất. Mẹ
liền mau tay đổ vào thùng rác đó hết
thùng này đến thùng khác những tấm băng
thấm đầy máu đã được dùng
để băng bó vết thương. Không bao
lâu, anh lính đã xỉu đi dưới đống
băng sa thải của một ngày làm việc
trong bệnh viện của các nữ tu Dòng Felician.
Sau khi nghe tiếng gõ cửa thứ hai, Mẹ
Angela chậm rãi bước ra mở cửa. Mấy
công an lực lưỡng hùng hổ bước
vô nhà và bắt đầu cẩn thận khám xét.
Một lúc sau, một tên công an tiến lại
bên thùng rác và mở tung nắp thùng rác ra, và thọc
tay vào thùng, nhưng khi hắn thấy những
gì nằm trong thùng rác này, hắn vội rút ngay
tay ra. Thất vọng vì không tìm thấy tội
phạm, họ bỏ đi. Nhờ tài trí lanh
lẹ của Mẹ Angela, người lính trẻ
kia đã may mắn thoát chết.
Mẹ Maria Angela Truszkowska là Vị sáng lập Dòng
Nữ Felician ở Balan, một chi nhánh của
đại gia đình Phanxicô. Mẹ đã sống,
làm việc, và chết trong một thời điểm
buồn thảm nhất của lịch sử
Balan. Từ năm 1795 đến 1918, xét về
mặt chính trị, Balan không còn hiện hữu,
và đã bị xoá tên khỏi bản đồ
Âu Châu. Trong 123 năm, người dân Balan đã
phải hứng chịu biết bao sầu khổ
không tả xiết, trong khi quốc gia họ bị
ba nước Nga, Phổ, và Áo cai trị, mỗi
nước một vùng. Năm 1830, dân Balan nổi
lên chống lại nhà cầm quyền Nga. Cuộc
nổi loạn này đã khiến cho Nga trả
đũa một cách dã man. Ruộng nương
bị tịch thu, những người thuộc
hàng quý phái bị lưu đầy, người
Công Giáo Rutheniann bị bắt bớ; không những
thế, họ còn định Nga-hoá cả dân tộc
Balan. Trong lần nổi loạn thứ hai xảy
ra năm 1863, người Nga trả đũa
một cách tàn ác hơn, trong đó có việc
triệt hạ các dòng tu. Nhưng giữa tất
cả những bắt bớ và khó khăn, Dòng
Felician vẫn đứng vững và lớn mạnh
dưới sự hướng dẫn của
Mẹ Angela.
Zophia Kamilla Truszkowska sinh ngày 16 tháng 5 năm 1825
tại Kalisz, Balan. Zophia là con đầu lòng trong
4 người con của ông Giuse và bà Giosepha Truszkowska.
Gia đình Truszkowska là một thành phần thuộc
hàng quý tộc Balan và là một gia đình Công Giáo
đạo hạnh. Ông Giuse là một luật sư
biện hộ trong toà án ở Kalisz. Vì sinh thiếu
tháng, nên bé Zophia rất yếu ớt, và vì bác sĩ
không hy vọng bé sẽ sống được,
nên bé liền được rửa tội tại
nhà. Dù vậy cha mẹ bé nhất quyết cố
gắng giữ bé sống, nên mẹ bé đã làm
chiếc máy hô hấp để kéo dài sức sống
của em, và đồng thời hai ông bà đã
thành khẩn van xin Đức Mẹ Czestochowa cho
con được sống.
Tấm lòng từ mẫu của Mẹ Maria không
thể từ chối niềm tin mạnh mẽ
đó, và bé Zophia đã được sống.
Với tấm lòng biết ơn, bà Giosepha đã
truyền lại cho Zophia lòng yêu mến đặc
biệt đối với Đức Mẹ, và
lòng mến này theo thời gian cứ lớn mạnh
hơn lên mãi.
Không bao lâu sau, Zophia đã trở thành một đứa
trẻ thông minh, luôn đặt ra nhiều câu hỏi
về mọi vấn đề. Cha mẹ em đã
mướn một cô giáo về để dạy
em. Cô giáo này có một ảnh hưởng mạnh
mẽ trên em, cả về mặt đạo đức
cũng như trong việc học vấn. Mỗi
lần đi dạo, thầy trò thường
kết thúc bằng việc viếng Chúa Giêsu Thánh
Thể.
Ngay từ thời niên thiếu, Zophia dường
như đã nhận thức được và
cảm thương với mọi nỗi khốn
cùng của tha nhân. Trong khi đi dạo với
cô giáo, Zophia thường lấy những đồng
xu em đã được người khác cho em,
và vui vẻ cho những người ăn xin và
những người không may mắn em gặp
trên đường.
Khi Zophia lên 12 tuổi, em theo gia đình chuyển
về Warsaw, và ở đó em được vào
học tại một trường tư. Tại
đây, Zophia tỏ ra trổi vượt trong
vấn đề tư cách và học vấn. Thêm
vào đó, một thầy giáo còn công khai gọi
em là "bé cưng," tuy rằng điều
này làm cho em rất xấu hổ.
Lúc 16 tuổi, Zophia mắc phải chứng bệnh
phổi, nhưng cũng may là được chữa
trị ngay trong thời gian đầu. Zophia được
cha mẹ cho sang Thụy Sĩ cùng với cô giáo
với hy vọng tại đây sức khoẻ
của Zophia sẽ khá hơn. Tại đây, vẻ
đẹp của núi đồi đã gây nên một
ấn tượng mãnh liệt trên tâm hồn cô
và đồng thời lòng cô thầm ca tụng
kỳ công vĩ đại của Thiên Chúa, và
cũng chính nơi đây, Zophia như cảm thấy
mình thực sự muốn trở thành một
nữ tu. Khi trở lại Warsaw, Zophia tỏ cho
cha mẹ biết ước vọng của mình,
nhưng cả hai ông bà đều kịch liệt
phản đối ý muốn vào Dòng của cô,
nên cô đành phải sống âm thầm trong bầu
khí gia đình, tiếp tục học hành và cầu
nguyện.
Ngoài việc cầu nguyện và học hành, Zophia
còn để giờ phụ với cha mẹ trong
việc chăm sóc các em, và giúp các em trong vấn
đề học vấn. Zophia đâu ngờ những
việc đó đang sửa soạn cho lý tưởng
mai này của cô trong vai trò người thầy
và người mẹ của vô số các trẻ
mồ côi.
Trong thời gian này, Zophia cũng làm một quyết
định là sẽ là người đầu
tiên đến nhà thờ tham dự Thánh Lễ.
Cùng với Valerie, em cô, trong mấy tuần liền,
từ sáng sớm đã lén ra khỏi nhà. Nhiều
hôm hai chị em phải đứng chờ lâu
giờ ở ngoài trời băng tuyết lạnh
giá vì cửa nhà thờ vẫn còn khoá. Nhưng
lòng sốt sắng của hai chị em đã sớm
bị ngăn chặn vì bị người coi
nhà bắt gặp, và người này được
cha cô ra lệnh không bao giờ được
cho hai cô ra khỏi nhà trước 5 giờ sáng.
Cái chết của em Valerie, lúc mới được
16 xuân xanh, đã gây một ấn tượng
mạnh mẽ trên Zophia. Đứng suy ngắm
trước quan tài của Valerie, Zophia nghĩ
tới cuộc đời thật quá ngắn
ngủi, và sự vô cùng của cuộc sống
mai sau. Vì thế, Zophia đã thưa chuyện với
Cha giải tội, và quyết định xin vào
Dòng chiêm niệm các nữ tu Dòng Thăm Viếng,
nhưng khi cô xin phép cha mẹ, thì bà mẹ chỉ
biết khóc thương con, còn ông bố thì kịch
liệt phản đối. Cũng trong thời
gian này, cha cô bị bệnh nặng, thế là
Zophia trở thành một y tá tận tình chăm
sóc cho cha. Và khi cảm thấy ước vọng
đi tu làm cho cha phải đau khổ nhiều,
cô đã hứa với cha là sẽ không tỏ
ý định đi tu cho đến khi ông qua đời.
Sau đó, cô cùng cha sang Đức tìm cách chữa
trị tại suối nước khoáng tuyền
ở Salzbrunn, và các thành phố lớn ở Đức.
Tại Vương Cung Thánh Đường Cologne,
Zophia nhận thấy Thiên Chúa không gọi cô vào
Dòng Thăm Viếng, tuy nhiên cô vẫn chưa biết
Thánh Ý Chúa sẽ định đoạt cho mình
thế nào; nhưng từ đó, cô nói rằng
tâm hồn cô tràn đầy bình an và hoàn toàn phó
thác.
Trở lại Warsaw, ông Joseph bắt đầu
có ý định cho Zophia tiếp xúc với xã hội,
với hy vọng cô sẽ tìm được một
người bạn đời tốt. Cô vâng theo
ý muốn của cha mẹ, tham dự các buổi
tiệc tùng và dạ hội. Nhưng vì tính tự
nhiên rất nhút nhát và thích đời sống âm
thầm, nên những lúc này thật là một thử
thách lớn cho cô. Trong nhiều buổi dạ
vũ, Zophia thường tìm một người
em họ và cũng là người bạn thân, Clothilde
Ciechanowski, và cả hai cũng tìm chỗ thanh vắng
để bàn những chuyện hợp sở
thích của họ. Clothilde cũng cảm thấy
muốn vào dòng kín, nhưng cũng bị gia đình
phản đối.
Sau một mùa đông bận rộn trong các cuộc
dạ hội liên hoan, mùa hè năm đó, Zophia
và Clothilde đến nghỉ hè tại nhà nghỉ
hè của gia đình ông nội của Clothilde ở
Grojec. Ở đây, hai cô dùng thì giờ để
dạy giáo lý cho các trẻ em trong làng, và may quần
áo cho những người nghèo trong xứ đạo.
Tối đến, khi mọi người trong
nhà đã đi ngủ, Zophia mới tìm được
giờ để cầu nguyện. Một buổi
sáng nọ, cô giáo cũ của cô, lúc này vẫn
theo ở với gia đình cô, tình cờ thấy
Zophia đang nằm ngủ trên sàn nhà vì hãm mình.
Theo gương thánh Phanxicô Assisi, Zophia quyết
định không nằm trên giường. Vì nhận
ra lòng đạo đức của Zophia, và vì
biết rằng cha mẹ cô sẽ cực lực
phản đối nếu việc hãm mình này của
cô bị họ biết được, nên cô giáo
của Zophia giữ kín chuyện đó. Ngoài việc
nằm ngủ trên sàn, Zophia còn làm nhiều việc
hãm mình khác, nhưng tất cả đều được
làm cách kín đáo trong âm thầm.
Một tối nọ, trong khi Zophia đang cầu
nguyện trước ảnh Đức Mẹ
Czestochowa trong phòng riêng, không biết vì sao áo cô và
khung ảnh Đức Mẹ đã bắt hoả
từ cây nến và bị cháy. Khi cô giáo của
Zophia ngửi thấy mùi cháy, bà liền đi tìm
chỗ cháy, và khi thấy áo Zophia và khung ảnh
đang cháy, bà liền gọi người đến
chữa lửa. Không hiểu lúc đó Zophia đang
ngủ hay đang chìm đắm trong cầu nguyện,
nên đã không biết là mình đang bị cháy.
Khi dập tắt được ngọn lửa,
mọi người thật kinh ngạc khi thấy
cả Zophia và tấm ảnh Đức Mẹ
đều không bị hề hấn gì, trong khi
áo và khung ảnh lai bị thiêu rụi. Mọi
người đều cho đây là hiện tượng
lạ, và từ đó cả gia đình có lòng sùng
kính rất đặc biệt đối với
bức ảnh này.
Một thời gian sau, vì Zophia không còn nói đến
việc đi tu nữa, nên ông Joseph cho phép Zophia
được chăm sóc những người
bần cùng trong khu phố nghèo ở Warsaw, và quảng
đại giúp đỡ hai đứa trẻ
mồ côi do Zophia chăm sóc. Sau này, con số đó
lên đến sáu, và Zophia cùng với Clothilde trở
thành hai phần tử đầu tiên của Tu
hội Thánh Vinhsơn Phaolô mới thành lập.
Theo sự đề nghị của Cha giải
tội, Zophia cũng xin nhập Dòng Ba Phanxicô, và
nhận tên mới là Angela. Lúc này Angela (Zophia) đã
29 tuổi. Với sự trợ giúp về tài
chính của Cha và với số tiền xin được,
Angela cùng với Clothilde lập một viện
mồ côi, và nhà trọ cho những phụ nữ
không nhà hay bị bỏ rơi. Ngày 21 tháng 11 năm
1885, Angela cùng với Clothilde công khai tận hiến
cho Đức Mẹ, theo như Thánh ý của Chúa
Giêsu, Con Mẹ.
Gương phục vụ của hai người
đã lôi kéo nhiều thiếu nữ khác từ
những gia đình giầu có ở Warsaw gia nhập.
Vì tất cả đều gia nhập Dòng Ba Phanxicô
và sống đời sống cộng đồng,
nên vị cố vấn quyết định cho
họ mặc áo Dòng; thế là năm 1857, mười
Chị được mặc áo Dòng Phanxicô. Trong
thời gian này, vì các nữ tu trẻ này thường
đưa các trẻ mồ côi do họ coi sóc đến
một thánh đường của Dòng Capuchin
được dâng kính Thánh Felix, nên dân thành từ
đó bắt đầu gọi họ là các Sơ
Dòng Felician, và tên ấy đã đi liền với
tu hội mới cho đến ngày nay. Năm 1860,
tu hội được vào sổ bộ ở
Vatican, và Đức Thánh Cha Piô IX đã chúc lành
cho tu hội mới này. Sơ Angela được
chỉ định làm Bề trên tiên khởi của
tu hội.
Tại tu viện, Mẹ Angela vẫn giữ vai
trò là mẹ và là thầy của các trẻ mồ
côi. Mẹ cũng là người bạn, y tá, và
người an ủi đối với những
phụ nữ cao niên. Thêm vào đó, Mẹ thường
tìm giờ đi thăm những người cùng
khổ trong khu phố nghèo, đem đến cho
họ sự trợ giúp an ủi về tinh thần
cũng như vật chất.
Không bao lâu, vì quá nhiều người đến
xin nhập tu hội, Mẹ Angela càng ngày càng phải
dùng thêm giờ để huấn luyện các phần
tử của Dòng. Chỉ trong 4 năm, các Sơ
đã có thể mở được 27 trường
học tại các làng mạc trong phần đất
người Nga chiếm đóng. Ban ngày, các em nhỏ
đến học tại trường, ban tối
người lớn tụ tập để học
giáo lý.
Các nữ tu sống với Mẹ Angela từ
thuở ban đầu đều xác nhận rằng
Mẹ đòi hỏi rất nhiều nơi họ,
nhưng Mẹ vẫn cho mỗi người những
sự trợ giúp tinh thần và những chỉ
bảo để giúp họ đặt lý tưởng
đời họ trên một nền tảng vững
chắc. Năm 1860, một chi nhánh chiêm niệm
của Dòng Felician được thành lập.
Tu viện này có 12 nữ tu sống đời
chiêm niệm để đền tạ cũng
như cầu nguyện cho công việc của
cộng đoàn Dòng, trong khi các nữ tu khác tiếp
tục công việc tông đồ. Mẹ Angela
là một trong 12 nữ tu chiêm niệm đầu
tiên ấy, nhưng sau 3 năm, vì vai trò của
Mẹ phải coi sóc cả hai nhánh buộc Mẹ
phải trở lại làm việc với các nữ
tu hoạt động.
Đến năm 1863, một cuộc nổi loạn
bùng lên chống lại người Nga. Trong dịp
này, các nữ tu Felician lo săn sóc các binh lính Balan
bị thương, và sau khi cuộc nổi loạn
bất thành, họ giúp che dấu những người
tị nạn chính trị. Một bức tường
bí mật của bệnh viện đã được
biến thành nơi tạm trú cho những người
bị lùng bắt đó.
Trong một bức thơ gởi cho các Sơ trong
thời gian này, Mẹ Angela viết những lời
đầy an ủi, khuyến khích, và đề
nghị các Sơ hãy "giúp đỡ tất
cả mọi người không trừ một
ai, dù bạn hay thù hãy coi họ như nhau... Mọi
người đều là anh chị em của
chúng ta".
Không lâu sau, những người Nga nghĩ rằng
các Sơ Felician đã tham gia vào cuộc nổi
loạn, nên Nga hoàng ra lệnh giải tán Dòng cùng
với nhiều Dòng tu khác. Công an võ trang đã đột
nhập tu viện, ra lệnh cho các Sơ phải
mặc thường phục, và trong ba ngày phải
rời khỏi tu viện. Còn các Sơ chiêm niệm
thì được phép đến tu viện Thánh
Bernađinô ở Lowics để tạm trú, trong
số đó có Mẹ Angela. Trước khi rời
Warsaw, Mẹ đã lo cho các Sơ tìm được
nơi tạm trú trong số các họ hàng thân quyến
của họ.
Trong một thời gian ngắn, không ai được
phép giúp tiền của cho các Sơ tại tu viện
Thánh Bernađinô. Công an được lệnh
canh gác cửa, không cho ai đem đồ ăn
và những vật dụng cần thiết khác
đến cho các Sơ. Một tối nọ,
khi các Sơ vừa xuống đến phòng ăn
để dùng bữa tối, món duy nhất họ
thấy trên bàn là một bình nước. Ngồi
vào ghế, Mẹ Angela và các Sơ cùng nhìn nhau và
cười. Sau đó, Mẹ Angela bắt lên kinh
Magnificat (Ngợi Khen) và kinh Te Deum (Tạ Ơn),
mọi người cùng chung lời tạ ơn
Thiên Chúa trước khi dùng bữa tối bằng
nước lã.
Về phần các Sơ bị phân tán các nơi,
họ chỉ còn cách là làm việc trong âm thầm.
Chính điều này làm cho Mẹ Angela phải đau
khổ nhiều. Sau cùng, vào năm 1865, Vua Franz
Josef cho phép các Sơ được sống trong
vùng người Áo của nước Balan. Mẹ
sung sướng kêu gọi tất cả các Sơ
tụ hfdỏ tại Krakow, và Mẹ đến
gặp họ vào tháng 5 năm 1886.
Mặc dầu Mẹ Angela vẫn tiếp tục
lãnh nhận trách nhiệm điều khiển
cộng đoàn, sức khoẻ Mẹ bắt
đầu suy giảm từ từ và sau này tai
Mẹ gần như điếc. Vì vậy đến
năm 1869, Mẹ đã từ chức Bề trên,
và nhận việc chăm sóc khu vườn của
tu viện.
Dù đang mang bệnh, Mẹ vẫn tiếp tục
làm việc. Vào năm 1873, Mẹ Angela mở
rộng tầm hoạt động của Dòng
trong việc giúp đỡ các sinh viên đang theo
học tại các đại học ở Krakow.
Một phòng ăn được thiết lập
để cung cấp thực phẩm cho các sinh
viên nghèo; thêm vào đó còn giúp họ có những
học cụ cần thiết, và y phục tối
thiểu để họ có thể tiếp tục
theo học. Để công việc này được
hữu hiệu hơn, Mẹ đã cầu xin
sự trợ giúp của các thần thánh trên trời,
nhất là Thánh Antôn. Mẹ có lòng sùng kính đặc
biệt với Thánh Antôn, nhưng thay vì chỉ
khoanh tay âm thầm cầu xin với ngài, Mẹ
đã dành nhiều giờ chuyện vãn với
Thánh nhân trước một bức ảnh của
Ngài trong tu viện. Có người tình cờ nghe
được những câu Mẹ thân thưa với
Thánh Antôn kể rằng trong lúc đó, giống
như Mẹ đang nói chuyện với một
người nào đó trong phòng. Một bữa
nọ, Mẹ đi đi lại lại trước
bức ảnh, và trách khéo Thánh Antôn vì chậm trễ
trong việc giúp đỡ một sinh viên trẻ.
Người sinh viên này cần một bộ quần
áo mới để mặc trong ngày thi. Không có
bộ quần áo này thì không được thi.
Trong khi Mẹ đang đi lại, thì có tiếng
chuông gọi cửa. Trước cửa là một
người đàn ông với bộ quần áo
mới trên tay: "Thưa Sơ, mấy lão thợ
may ngớ ngẩn thế nào, lại may cho tôi
bộ quần áo này quá nhỏ. Sơ nghĩ có
người nào có thể dùng được không?"
Vào năm 1874, Hoa Kỳ xin các Sơ sang phục
vụ những người Balan di trú đang sống
tại quốc gia này. Thế là vào ngày 24 tháng 10,
Mẹ Angela sung sướng chúc lành cho năm nữ
tu đầu tiên dấn thân vào cánh đồng
truyền giáo mới của Dòng.
Đến năm 1899, Mẹ Angela mắc phải
chứng bệnh ung thư dạ dày, vì thế
trong mấy tuần cuối đời, Mẹ
không thể ăn gì được. Đức
nhẫn nại anh hùng không than phiền của
Mẹ khiến cho các bác sĩ phải thán phục,
đến nỗi một bác sĩ đã nói: "Chỉ
có một thánh nhân mới biết chịu đau
khổ như vậy". Mẹ âm thầm trở
về nhà Cha ngày 10 tháng 10 năm 1899, và được
mai táng trong nhà nguyện bên cạnh Tu Viện Nhà
Mẹ tại Krakow.
Sau khi Mẹ qua đời, nhiều người
đến viếng ngôi mộ của Mẹ và
cầu xin sự cầu bầu của Mẹ.
Sau đó không lâu, vì rất nhiều ơn lạ
xảy ra nhờ lời chuyển cầu của
Mẹ Angela, nên năm 1949, cuộc vận động
xin phong Chân phước cho Mẹ được
bắt đầu. Đức Hồng Y Karol Wojtyla,
Tổng Giám Mục Krakow, hiện nay là Đức
Thánh Cha Gioan Phaolô II, đã chính thức mở cuộc
điều tra năm 1967. Cũng chính Đức
Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nâng Mẹ Angela Truszkowska
lên bậc Chân phước ngày 18 tháng 4 năm 1993.
|
|