|
|
| |
Biên soạn:
Rev. John, CMC |
|
Chân
Phước Laura
Vicuna
Dâng
hiến mạng sống để cứu người
mẹ khỏi trụy lạc. (1891-1904)
Laura Vicuna sinh trưởng trong một xã hội
cũng như ngày nay, nhiều cặp vợ chồng
sống trong tội lỗi. Lúc chết, Laura mới
có 13 tuổi, nhưng ngay từ tấm bé, em đã
hiểu được cuộc sống tội
lỗi của mẹ em. Khi nhận thấy rằng
không gì có thể làm cho mẹ em cắt đứt
mối giây ràng buộc này, em đã tự ý dâng
hiến cuộc đời cho Thiên Chúa để
cầu nguyện cho người mẹ thân yêu
của em.
Laura Vicuna sinh tại Santiago, Chí Lợi, ngày 5 tháng
4 năm 1891. Cha em là một người lính thuộc
gia đình quý phái. Ba tháng trước ngày Laura sinh
ra, một cuộc cách mạng và nội chiến
bùng nổ, nên ông Vicuna đã cùng với vợ
là bà Mercedes và đứa con đầu lòng phải
tị nạn chính trị tại vùng núi Andes.
Không lâu trước ngày sinh nhật thứ ba của
Laura, và sau khi em của Laura là bé Julia chào đời,
ông Vicuna qua đời, để lại người
vợ goá nuôi dưỡng đoàn con thơ. Bà
Mercedes đưa các người con gái bà đến
thành phố Las Lajas, với hy vọng ở đây
bà có thể tìm được việc làm nấu
nướng hoặc giặt quần áo. Tại
đây, bà gặp ông Manuel Mora, chủ một doanh
trại lớn của vùng đó. Ông Manuel tình nguyện
giúp đỡ bà, nhất là về tài chính, để
con cái bà có thể đi học tại trường
do các nữ tu Dòng Sa-lê-diêng (Nữ Tử Đức
Mẹ Hằng Cứu Giúp) coi sóc. Để đền
đáp công ơn ông, bà Mercedes chấp nhận để
làm vợ lẽ của ông.
Khi Laura được 8 tuổi, do sự đề
nghị của một linh mục Dòng Sa-lê-diêng,
bà Mercedes cho 2 chị em Laura đi học tại
Junin. Đối với Laura, cuộc sống ở
trường học thật hạnh phúc. Ở
đây, Laura được học về Thiên
Chúa và tình yêu của Người, và được
dạy phải đáp trả tình yêu này bằng
đức bác ái với chị em học sinh tại
trường. Tại trường, Laura trổi
vượt chúng bạn về thể thao, và là
bạn của mọi người. Em giúp những
bạn học nhỏ tuổi hơn em trong những
công việc hằng ngày như dọn dẹp giường
chiếu, chải tóc, hay may vá quần áo. Đôi
khi em đóng vai sứ giả hoà bình mỗi khi
những trẻ khác cãi lộn với nhau. Nếu
Julia em của em có gì lầm lỗi, Laura nhẹ
nhàng sửa lỗi cho em. Laura thực sự là
mẫu gương cho mọi trẻ khác phải
cố gắng noi theo. Thêm vào đó, em đứng
đắn đoan trang và thông minh hơn những
trẻ khác cùng tuổi. Ngay từ nhỏ, em đã
có một sự hiểu biết sâu xa đối
với đời sống cầu nguyện, thêm
vào đó, vì có khiếu "lãnh đạo,"
nên em có thể tạo một bầu khí vui tươi
sốt sắng nhiệt thành nơi các bạn
bè.
Ngay kỳ nghỉ hè đầu tiên, em đã có
thể nhìn ra lối sống tội lỗi của
mẹ em. Thêm vào đó, ông Manuel thường hay
say rượu, và trong những lúc này ông thường
đòi ôm hôn Laura, em phải cố gắng lắm
mới thoát khỏi bàn tay của ông. Sau khi biết
được chuyện này, mẹ em yêu cầu
ông đừng đụng đến con bà. Ông
đã giữ như lời bà xin, nhưng trừ
lúc ông say rượu. Nên những lúc ông say rượu,
Laura phải tìm mọi cách để xa tránh ông.
Laura được Rước lễ lần
đầu lúc 10 tuổi. Bà Mercedes đã đến
Junin để tham dự buổi lễ; chính trong
buổi lễ này, Laura nhận ra là mẹ em không
chịu các bí tích. Và em cũng đã sớm nhận
ra là mẹ em không được vui cho lắm.
Nên em thường dâng lên Chúa lời nguyện
này: "Lạy Chúa Giêsu, con mong muốn mẹ
con biết Chúa nhiều hơn và được
hạnh phúc".
Trong thời gian này, Laura ham muốn đời
sống thánh thiện của các nữ tu. Các Sơ
đã can đảm từ giã quê hương xứ
sở và dâng hiến đời sống để
phụng sự Chúa trong các nơi truyền giáo.
Laura âm thầm hy vọng một ngày nào đó có
thể theo gương các nữ tu này và trở
thành một nữ tu. Có lần Laura nói: "Tôi
muốn làm tất cả những gì tôi có thể
để làm cho Thiên Chúa được hiểu
biết và mến yêu". Một trong những
lời nguyện của em là: "Lạy Chúa của
con, con muốn mến yêu và phụng sự Chúa
suốt đời con". Một lần nọ,
lúc Laura được 11 tuổi, Đức Cha
John Cagliero đến thăm trường em đang
theo học, và Laura xin Đức Cha để
được trở thành một nữ tu Dòng
Sa-lê-diêng. Đức Cha liền cười và
nói: "Hỡi con, hãy chờ một thời gian
nữa". Nhưng Laura không muốn chờ.
Nhiều lần Laura xin Cha giải tội của
em cầu nguyện cho em và xin Chúa cho biết Thánh
Ý Chúa đối với việc em muốn trở
thành một nữ tu Dòng Sa-lê-diêng. Vị linh mục
này rất thông cảm với em, và đồng
ý là em thật sự có ơn gọi sống đời
tu trì, nhưng cả hai đã giữ bí mật
chuyện này.
Mùa hè năm 1901, Laura trở về nông trại
để nghỉ hè. Hơn bao giờ hết,
ông Manuel tỏ ra càng để ý đến Laura
hơn, vì ông thường nịnh hót và hay làm phiền
em. Với lời cầu nguyện và luôn thận
trọng, em quyết chí bảo vệ đức
trinh khiết của em. Hằng ngày, em luôn xin Chúa:
"Lạy Chúa, xin đừng để con làm
mất lòng Chúa."
Dù tìm mọi cách để tránh né, nhưng ngày
kinh hoàng kia cũng đã đến; Laura bị
ông Manuel bắt gặp đang ở một mình.
Ông tiến lại gần, và tính làm những điều
không hay, Laura phải cố gắng lắm mới
thoát khỏi tay ông, rồi em chạy ra ngoài. Dù
thoát thân, nhưng Laura biết là ông Manuel sẽ
không chịu bỏ qua. Đúng như Laura đã
tiên đoán, mấy hôm sau, trong một cuộc
hội làng, ông Manuel tiến lại bên Laura, và
mời em vũ với ông. Laura đã thẳng
thắn khước từ, bất chấp lời
đe doạ của ông Manuel và lời khuyên của
mẹ em. Tối hôm đó, Laura phải tìm một
chỗ thanh vắng để lẩn trốn,
trong khi đó, ở nhà, ông Manuel tràn đổ
cơn giận của ông trên người mẹ
không may của em. Để trả thù, ông không
chịu tiếp tục trả tiền học
phí cho Laura, nhưng các Sơ tại trường
biết được những gì đã xảy
ra, nên sẵn sàng cho các em được học
miễn phí. Nhưng vì bà Mercedes cảm thấy
hổ thẹn với tấm lòng bác ái của
các Sơ, nên chỉ cho Laura tiếp tục học,
còn giữ em Julia ở nhà với bà.
Đến lễ Phục Sinh năm 1902, Laura được
Đức Cha Cagliero cho chịu phép Thêm Sức.
Sau đó, Laura nhận thấy em chưa dâng lên
Thiên Chúa của lễ hy sinh cao trọng nhất
để cầu cho mẹ em, nên Laura xin Cha giải
tội để được phép dâng hiến
chính mạng sống em cho Thiên Chúa xin ơn cải
thiện cho mẹ em. Nhận thấy mình đang
đối diện với đứa trẻ trước
đây đã được lãnh nhận biết
bao ơn phúc thiêng liêng, vị linh mục cho phép
em làm như điều em xin.
Vào mùa đông năm 1903, Laura bị bệnh. Mẹ
em xin em hãy trở về nhà với bà, nên Sơ
giám đốc nói với Laura: "Mẹ con cần
con hơn là con cần mẹ con. Con nên về".
Tại nông trại, thay vì khoẻ hơn nhờ
khí hậu trong lành và sự giúp đỡ của
thân nhân, thì sức khoẻ của Laura mỗi
ngày mỗi trầm trọng hơn. Trong lúc này,
em cảm thấy của lễ hy sinh của em
đã được Thiên Chúa chấp nhận,
nên em không nghĩ là em sẽ khoẻ lại.
Lúc đầu, không mấy lúc ông Manuel ở trong
nông trại, nhưng mỗi khi ông về, Laura
nhận thấy ông rất lạnh nhạt với
mẹ em, nhất là trong những lúc ông say rượu,
ông nhìn Laura bằng một cặp mắt trong
đó nói lên một khát vọng bất chính. Bà
Mercedes cũng nhìn ra điều đó, nên dù bị
đe doạ, bà cũng đã cùng với các con
của bà dọn đến Junin, và mướn
một căn nhà nhỏ để ở.
Đêm hôm 14 tháng 5 năm 1904, ông Manuel, với lòng
tức giận, và say sưa trong rượu chè
và dục tình, đã vào phố, và muốn nghỉ
đêm tại nhà mẹ con bà Mercedes. Với một
cái roi trên tay, ông bắt bà Mercedes phải bằng
lòng cùng với các con của bà trở về nông
trại với ông.
Dù với thân hình rất mệt mỏi và xanh xao,
Laura nhất quyết tuyên bố: "Nếu ông
ở lại, con sẽ đi". Không chờ
câu trả lời, cô bước ra ngoài.
Ông Manuel tức đến điên người.
Ông liền đứng lên theo em ra ngoài, thấy
nguy hiểm, bà Mercedes thất thanh bảo Laura
chạy lẹ đi. Laura định chạy
đến nhà các Sơ để trú thân, nhưng
đến giữa đường thì bị ông
Manuel đuổi kịp. Ông đánh, ông đá em,
trong khi em nằm trên mặt đường kêu
cứu. Có mấy người gần đó liền
chạy ra, ông liền khiêng người em lên và
định đặt lên lưng ngựa của
ông, nhưng khi thấy nguy hiểm, ông lại
ném em xuống đường, rồi bỏ đi.
Laura bị đánh bất tỉnh. Sức tàn của
em còn kéo dài được 7 ngày, trong khi mẹ
và em của Laura ngày đêm săn sóc cho em. Sau cùng,
em tỏ cho mẹ em biết một bí mật
mà em đã giấu mẹ từ lâu: "Thưa
mẹ, con sẽ chết, nhưng con rất vui
mừng để hy hiến cuộc đời
con cho mẹ. Con đã xin Chúa điều này."
Bà Mercedes quỳ sụp xuống đất khóc
nức nở. Bà rất biết nỗi lòng của
con bà; bà liền xin Laura tha thứ cho bà, cũng
như xin Chúa ơn tha thứ. Bà hứa sẽ
sống một cuộc đời mới. Sáu
giờ chiều ngày 22 tháng 11 năm 1904, Laura qua
đời. Ngay sau đó, bà Mercedes đến nhà
thờ xin lãnh ơn hoà giải. Nhờ người
con gái dũng cảm của bà, bà đã trở
về làm hoà với Thiên Chúa.
Dự án phong chân phước của địa
phận được bắt đầu ngày
19 tháng 9 năm 1955, và Laura Vicuna đã được
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II phong Chân phước
ngày 3 tháng 9 năm 1988.
|
|