|
|
| |
Biên soạn:
Rev. John, CMC |
|
Thánh
Phêrô Giulianô Eymard,
S.S.S.
Vị
tông đồ phép Thánh Thể. (1811-1869)
Khi Phêrô Giulianô Eymard mới được 5 tuổi,
chị của bé một hôm tình cờ nhìn thấy
bé trong nhà thờ, đang đứng trên một
cầu thang sau bàn thờ chính, tai ghé sát vào Nhà Chầu.
Sau đó chị của Eymard hỏi bé làm gì mà
ghé sát tai vào Nhà Chầu, bé trả lời là để
nghe thấy tiếng của "Người"
cho rõ hơn. Tấm lòng đơn sơ của
tuổi ấu thơ đó là khởi đầu
cho một cuộc đời hăng say với
chân lý Chúa Giêsu hiện diện thực trong hình
Bánh Rượu trên Bàn Thờ.
Ngày nay, không những việc rước lễ
thường xuyên hay hằng ngày là một điều
rất bình thường, mà còn là một điều
đáng khích lệ. Nhưng trong thời của
Thánh Eymard, lạc thuyết của phái Janseniô vẫn
còn ảnh hưởng trên Âu châu. Một trong những
điều sai lạc phái đó chủ trương
là họ coi việc rước Mình Máu Thánh Chúa
là một ơn huệ quá lớn lao, trong khi đó
người giáo dân lại quá bất xứng.
Vì thế, chỉ nên Rước Chúa mỗi năm
một lần, hoặc nhiều lắm là mỗi
tháng một lần thôi. Nên ai muốn rước
lễ thường xuyên thì đó là người
kiêu ngạo. Trong khi việc học Thánh Kinh là
điều rất hoạ hiếm, Thánh Eymard coi
sự hiện diện của Chúa trên Hòm Bia trong
thời Cựu Ước là một hình bóng cho
sự hiện diện của Chúa Kitô trong phép
Thánh Thể ở thời Tân Ước. Những
tư tưởng của Ngài về Mầu Nhiệm
Thánh Thể đã được trình bày mấy
chục năm trước những điều
tuyên bố của Thánh Piô X, vị "Giáo Hoàng
của phép Thánh Thể". Những giáo huấn
của Thánh nhân liên quan đến việc Rước
Lễ dù đã được viết trước
đây trên cả trăm năm, nhưng vẫn
còn thực tế đối với chúng ta ngày
nay. Trong Thánh Lễ Phong Thánh cho Ngài, Đức
Gioan XXIII đã ca tụng Thánh nhân là mẫu gương
hoàn hảo nhất trong việc thờ kính Chúa
Giêsu trong Phép Thánh Thể, và Đức Thánh Cha
khuyến khích các giáo hữu noi gương Ngài,
luôn quy hướng mọi tư tưởng,
cảm tình, và tất cả lòng nhiệt thành vào
trung tâm là nguồn mạch ơn thánh vô sánh này,
một Mầu Nhiệm Đức Tin mà Đấng
ẩn mình dưới tấm khăn che ấy
chính là Tác giả của ơn thánh, Đức
Giêsu, Ngôi Lời Nhập Thể.
Cuộc đời của Thánh Eymard thực là
một chứng từ nói lên chân lý gia đình Công
Giáo chính là chiếc nôi của sự thánh thiện.
Thân phụ của ngài, ông Giulianô, suốt đời
tận tụy làm nhiều việc để
kéo gia đình ra khỏi cảnh nghèo khó. Khi Eymard
sinh ra, ông đang làm chủ một tiệm ép dầu
và bán dao kéo. Người vợ thứ nhất
của ông chết đi, để lại cho
ông năm cô con gái. Bốn cô đã đi sống
với họ hàng thân thuộc, chỉ còn Maria
Anna ở với ông Giulianô và người vợ
thứ hai của ông, cũng là mẹ của Eymard.
Cả bà thân mẫu của thánh nhân lẫn chị
Maria Anna là những người rất sùng đạo.
Từ tuổi ấu thơ, Eymard thường
được bế đến nhà thờ để
viếng Thánh Thể. Một trong những điều
đầu tiên Eymard còn nhớ được
là hình ảnh mình được đứng trước
Mặt Nhật bằng vàng. Dù ông Giulianô kịch
liệt phản đối ơn gọi của
Eymard trong nhiều năm, sau cùng ông đã chấp
nhận vì ông cảm thấy đó là Thánh Ý Chúa.
Lý do tại sao ông phản đối cũng thật
dễ hiểu, trước hết vì Eymard là con
trai duy nhất và cũng là người duy nhất
còn sống trong bốn người con của
bà vợ thứ hai. Vì thế, không phải vì ông
phản đối mà chúng ta cho ông không phải
là người công giáo tốt. Nhất là trước
khi ông chết, ông hoàn toàn thay đổi quan niệm
và không còn phản đối việc con trai đi
tu nữa.
Dù lúc còn nhỏ, Eymard được xếp vào
loại ngoan ngỗn, nhưng không vì đó mà em
khác thường với những đứa trẻ
đồng trà; cậu sống một cuộc
đời bình dị như các đứa trẻ
cùng tuổi. Dù không giỏi trong các trò trơi,
cậu cũng thích chơi đùa với chúng bạn.
Đôi khi cậu không vâng lời cha mẹ và các
kỷ luật, thích tò mò; có một lần vì quá
ham chơi, Eymard đã làm một điều mà
mãi đến lúc sắp chết, Eymard vẫn
còn ân hận.
Câu truyện xảy ra như sau: Tướng Bonaparte
mới dẫn đầu đoàn quân qua thành phố.
Thế là trẻ con trong thành bắt đầu
đóng vai lính để chơi với nhau. Ăn
vận càng đẹp, càng oai thì càng được
chức cao. Sau mấy ngày đi lùng các tiệm
trong phố, Eymard đã tìm được một
bộ lông của lính, và em liền bị cám dỗ
ăn cắp. Lựa lúc thuận tiện, em
đã lấy bộ lông và chạy về. Nhưng
chạy chưa được bao xa, và mặc
dù người chủ cẫn chưa biết bị
mất cắp, Eymard cũng bị lương
tâm cắn rứt đến nỗi em đã quay
lại tiệm trả lại bộ lông, và cấp
tốc chạy về nhà. Từ đó, mỗi
lần nghĩ lại chuyện này, Eymard luôn tỏ
ra buồn phiền hối hận.
Một lần nọ, Eymard nghe được
các tu sĩ dòng Carmêlô nói với nhau là bạn bè
khi gặp nhau thì nên nói với nhau vài lời. Eymard
liền liên tưởng điều này đối
với Chúa Giêsu Thánh Thể. Nếu mỗi lần
đi qua Chúa Giêsu Thánh Thể mà không viếng thăm
và nói vài lời với Ngài, thì chưa phải
là bạn của Ngài. Lý do Eymard đưa ra để
biện minh cho quan niệm của mình cũng thật
đơn giản: "Chúa Giêsu đang ở đó;
mọi người phải đến với
Ngài".
Eymard hằng mong chờ ngày được Rước
Lễ lần đầu. Đồng thời,
em bắt đầu có ý tưởng muốn đi
tu. Vì vậy, em đã xin chị Maria-Anna rước
lễ để xin Chúa ban cho em được
làm linh mục.
Từ ngày đó, Eymard bắt đầu giúp lễ
trong các thánh lễ, Chúa Nhật cũng như ngày
thường. Vào thời đó, trước giờ
lễ quãng 15 phút, chú giúp lễ thường rảo
qua đường phố rung chuông kêu gọi
mọi người đến nhà thờ. Eymard
rất thích làm việc ấy, đến nỗi
đôi khi em mang cả chuông về nhà từ tối
hôm trước.
Khi đã có trình độ học vấn như
các trẻ đồng tuổi, Eymard được
cha đưa đến tiệm ép dầu để
làm việc. Vì biết là cần phải học
Latinh, Eymard bắt đầu dùng giờ riêng để
tự học. Eymard tìm mua được một
cuốn sách Latin cũ để học, và nhờ
một chủng sinh chỉ dạy cho những
điều căn bản.
Đến năm 17 tuổi, một hôm nghe được
ba má đang bàn chuyện lo việc hôn nhân cho mình,
Eymard liền cho ba má biết mình đã quyết
định làm linh mục, không gì có thể đổi
ý mình nữa. Nhận thấy không thể đổi
ý của Eymard, ông thân sinh đã để cho Eymard
được tự do học, nhưng ông nhất
định không giúp đỡ tài chính cho cậu.
Khi biết tin một linh mục tại Grenoble
sẵn sàng dạy Latinh cho những ai bằng
lòng giúp ngài làm việc trong nhà xứ, Eymard liền
lên đường đến xin học, với
hy vọng sẽ có đủ căn bản về
Latinh. Khi đến nơi, Eymard mới biết
vị linh mục đó là tuyên uý một nhà thương
điên nằm bên cạnh nhà xứ. Vị linh
mục đã không giữ lời hứa dạy
Latinh cho Eymard. Không những thế, ngài còn bắt
Eymard bỏ nhiều giờ giúp ngài chăm sóc
các bệnh nhân. Nhiều khi, ngài còn để Eymard
một mình ở nhà thương lo cho các bệnh
nhân, bất chấp những nguy hiểm có thể
xảy ra.
Sau quãng ba tháng tại đây, trong khi nói chuyện
với vị giám đốc nhà thương, ông
đã an ủi Eymard vì nỗi buồn mất mẹ.
Cho tới lúc này, vẫn chưa ai cho Eymard biết
tin mẹ cậu qua đời. Eymard vội vã
về, nhưng không kịp để dự lễ
an táng. Nước mắt của ba giữ Eymard
ở lại với gia đình một thời
gian. Nhờ cái chết của mẹ cậu, ba
cậu đã tìm được một lý do để
cản trở ơn gọi của cậu.
Trong năm 1829, một số linh mục thuộc
tu hội Đức Mẹ Vô Nhiễm đến
giảng truyền giáo. Các vị đó thu hút ông
Eymard đến nỗi ông đã cho con trai ông gia
nhập tu hội này.
Vì kém về Latinh, Eymard đã phải cố gắng
hết sức để học, đến nỗi
kiệt sức và bị cho về để chờ
chết, và gia đình phải mời cha đến
làm phép Xức Dầu cho chàng. Trong lúc chờ chết,
Eymard đã xin Chúa ban cho mình ít là được
dâng một Thánh lễ trước khi chết.
Lời nguyện này chắc đẹp lòng Chúa,
vì không bao lâu sau đó Eymard đã bình phục.
Sau khi bình phục, nhờ sự giúp đỡ
của vị sáng lập tu hội Đức
Mẹ Vô Nhiễm, Eymard đã được nhận
vào chủng viện để hoàn tất việc
học, và được chịu chức linh
mục. Vì không có chỗ nào cần linh mục,
Cha Eymard lại xin gia nhập tu hội Đức
Mẹ Vô Nhiễm, nhưng bị từ chối,
vì bị coi là không đủ sức khoẻ để
chịu đựng những khó khăn của
đời truyền giáo. Sau đó, Cha được
trao cho một giáo xứ. Cha nêu gương sáng
cho giáo dân trong sự tận tụy và đời
sống gương mẫu, nhất là Cha dùng nhiều
giờ để tôn thờ Chúa Giêsu Thánh Thể.
Một thời gian sau, Cha Eymard gặp mấy
tu sĩ dòng Đức Mẹ. Vì có lòng sùng kính
Đức Mẹ, Cha đã xin gia nhập dòng này.
Dù không muốn mất một vị linh mục
tốt lành, Đức Cha vẫn đồng ý
cho Cha gia nhập. Cha Eymard đã sống trong Dòng
này 17 năm.
Đến lúc này, Cha Eymard nhận thấy hầu
hết các mầu nhiệm Đức Tin đều
đã được ít là một Dòng tu để
ý đến, trừ Mầu Nhiệm Chúa hiện
diện trong phép Thánh Thể. Cha đã được
ơn soi sáng thành lập một cộng đoàn
tu trì với mục đích chính là dâng hiến
cuộc đời để tôn thờ Chúa Giêsu
Thánh Thể. Lúc đầu, Cha muốn cộng
đoàn mới được nằm trong khuôn
khổ của Dòng Đức Mẹ, nhưng các
vị Bề trên cảm thấy điều này
không thể được. Thay vào đó, họ
đồng ý cho Cha rời khỏi Dòng để
có thể thực hiện ơn gọi của
Cha. Sau đó, Cha xin Đức Thánh Cha, và Ngài đã
cho phép thành lập tu hội mới.
Trong thời sơ khai, Dòng mới này gặp rất
nhiều khó khăn. Không có đủ tài chính để
chi phí những điều cần thiết. Dù
Cha luôn ước ao bàn thờ phải đẹp
như ngai vua, nhưng trong tu viện đầu
tiên, bàn thờ chỉ là một tấm ván. Đến
một hôm Cha Eymard đem đến cho anh em một
tin mừng, "Ngày hôm nay chúng ta đã có vải
trải trên bàn thờ, mỗi thước vải
là tám xu. Bàn thờ trông khá hơn nhiều".
Cha Eymard cũng viết nhiều sách trình bày các
khía cạnh của phép Thánh Thể. Và Đức
Hồng Y Gibbons có lần đã nói, Cha Eymard chỉ
nhìn thế giới qua "lăng kính thần
linh của mầu nhiệm Thánh Thể".
Trong thời gian đầu của Dòng, ơn gọi
thật là hiếm hoi. Gia nhập không được
bao lâu, một vài thanh niên đã rút lui. Dòng cũng
gặp nhiều phản đối, từ phía
những nhóm chống tôn giáo cũng như những
vị lãnh đạo tôn giáo. Nhưng bất chấp
mọi khó khăn, Cha Eymard luôn vững niềm
xác tín đơn sơ: hễ là điều Chúa
muốn, chắc chắn sẽ thành công. Quả
thật, sau đó không lâu, văn kiện chấp
nhận thành lập Dòng đã được gửi
tới từ Rôma, và Dòng bắt đầu từ
từ lớn mạnh.
Trong thời gian đó, một nghệ sĩ tài
hoa trẻ tuổi, là hoạ sĩ kiêm điêu
khắc gia, sau một thời gian khủng hoảng
tinh thần, đã đến xin nhập tu. Khi
có dịp nói chuyện với chàng, Cha Eymard nói:
"Tôi hy vọng là Chúa sẽ tha cho tôi tội
tự phụ hão huyền nếu anh tìm được
ơn gọi ở đây". Chàng hoạ sĩ
đã thành tâm thưa lại, "Con sẽ cố
gắng". Khi được hỏi chàng sẽ
tính sao về nghề hội hoạ của mình,
anh ta thưa lại là sẵn sàng bỏ hết.
"Này thầy Augustinô, đừng vội!"
Cha Eymard trả lời, "Không biết thầy
có tìm được ơn gọi ở đây
hay không; đó còn tuỳ ở Chúa. Dù sao, người
ta cũng không được vào Dòng để
lẩn trốn, nhưng để hoàn thành một
mục đích". Không lâu sau, Cha Thánh đã
khuyên chàng thanh niên trẻ tuổi này trở về
thế gian để tiếp tục nghề hội
hoạ. Cha đã hướng dẫn cho chàng hiểu
rằng nghề hội hoạ mới là công việc
của đời chàng, chứ không phải đời
tu trì. Sau này, một trong những tác phẩm nổi
danh nhất của Auguste Rodin, tên người
nghệ sĩ, chính là bức tượng Thánh
Phêrô Giulianô Eymard bằng đồng.
Ngoài tu hội cho ngành nam, Cha Eymard còn thành lập
hội Liên Minh Thánh Thể cho giáo dân, một dòng
chiêm niệm dành cho nữ tu, và hội Liên Minh
Thánh Thể cho các linh mục coi xứ. Khi bà Marguerite
Guillot bàn hỏi với Thánh Gioan Vianney về ý
định của Cha Eymard muốn đặt
bà làm Bề trên tiên khởi của một hội
dành cho phụ nữ, Ngài khuyên bà đừng ngần
ngại, nhưng hãy hoàn toàn đặt mình trong
tay Cha Eymard. Thánh Gioan Vianney nói: "Ngài là một
vị đại thánh. Khi gặp Ngài, xin bà hãy
nói với Ngài những gì bạn bè thường
nói khi gặp nhau, và tất cả chúng ta sẽ
gặp nhau ở trên Thiên Đàng".
Sau khi đã kiệt lực vì mệt mỏi và
đền tội, Cha Eymard đã rời Balê vào
tháng 7 năm 1868 và đến nghỉ tại thành
La Mure để lấy lại sức khoẻ.
Trên đường đi, ngài ngồi ghế
ngoài, nhường chỗ tốt hơn ở
hàng ghế trong cho người khác. Sức nóng
bỏng của ánh mặt trời khiến cho
ngài bị bất toại. Khi đến La Mure,
ngài không còn đủ sức chống lại một
số bệnh tật, và Ngài đã êm ái ra đi
ngày 1 tháng 8 năm 1868. Những tài liệu để
lại sau khi Ngài qua đời cho biết, tất
cả những ai đã sống với ngài đều
công nhận ngài là một vị thánh.
Chiến tranh bùng nổ vào năm 1870, và đến
năm 1880, Dòng của Ngài bị trục xuất
khỏi nước Pháp. Các tu sĩ chạy sang
Bỉ tị nạn. Không mấy người
nghĩ rằng Dòng sẽ tồn tại; nhưng
chỉ vài năm sau, một tu viện mới
đã được thành lập tại Rôma, và
các phần tử tiếp tục sứ mạng
của vị Thánh sáng lập. Đến năm
1899, cuộc điều tra về cuộc đời
của Cha Phêrô Giulianô Eymard được bắt
đầu.
Cha Eymard được phong Chân phước năm
1925. Đức Hồng Y Gibbons đã viết về
Ngài: "Không một vị tông đồ nào trong
thời đại chúng ta thấm nhiễm tinh
thần Thánh Thể cho bằng Chân Phước
Eymard". Đến ngày 9 tháng 12 năm 1962,
Cha Phêrô Giulianô Eymard được Đức
Thánh Cha Gioan XXIII tôn lên bậc Hiển Thánh.
|
|