|
|
| |
Thánh
Thể, Nguồn Tình Thương |
|
Gặp Chúa Trong Thánh Thể
(Gioan 6, 22-58)
Trong Thông
điệp "Mầu nhiệm Đức Tin
– Mysterium Fidei", sau khi nhắc lại các phương
cách mà Chúa đã và đang hiển diện trong
Giáo Hội, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI có nói như
sau:
"Chúa
Kitô còn hiển diện một cách khác thường,
một cách tuyệt diệu ở bên trong Giáo Hội
của Ngài bằng Bí tích Thánh Thể. Đây là
tột đỉnh của đời sống
thiêng liêng. Đây là cùng đích của mọi Bí
tích. Sự hiển diện ấy được
gọi là thật sự, không phải vì các cách
hiển diện khác không có thật, nhưng vì
ở đây có sự hiển diện tốt đẹp
nhất, sự hiển diện của chính mình
Chúa".
Trong các
cách hiển diện khác mà Thông điệp ám chỉ,
chúng ta có thể gặp gỡ Chúa bằng ơn
soi sáng, bằng các tác động của Ngài, bằng
lời nói bằng việc làm. Trong Bí tích Thánh Thể,
Chúa hiển diện bằng chính con một của
Ngài. Và, sau bao nhiêu thế kỷ, chúng ta được
sống thân mật với Chúa, gặp gỡ Ngài
và nói lên như các Tông đồ xưa: Chúng tôi
đã gặp Ngài (Gio. 1,45).
Bạn
cùng tôi, chúng ta hãy đến trong một ngôi Thánh
đường, tìm tới nơi Nhà Tạm của
Chúa, bên cạnh ngọn đèn leo lét tỏa ra
một rừng sáng bàng bạc, đẻ gặp
gỡ Chúa, thờ lạy Chúa, suy niệm và cầu
nguyện.
Thánh Gioan
Tông đồ nói: "Thiên Chúa là Tình yêu". Một
Tình yêu vo hạn không bờ bến; một Tình
yêu bao giờ cũng muốn san sẻ khối
nặng tình đang manh trong lòng. Chúa phán: "Ta
đem lửa thương yêu xuống trần
gian. Ta không mong ước gì hơn là thấy lửa
ấy cháy lên lan tỏa khắp thế giới".
Thì Bí tích
Thánh Thể là Lửa tình là tang chứng Tình yêu
vô hạn mà Chúa đem đến.
Người
ta kể cho nhau câu chuyện cảm động
này: Trong xứ đạo... có đôi vợ chồng
trẻ sống rất hạnh phúc và ấm cúng.
Ngày hai buổi, người chồng đi làm,
bà vợ ở nhà lo việc tề gia nội trợ.
Cuộc sống đôi uyên ương ấy đang
tiếp diễn thì một tai nạn xảy đến
làm tan vỡ. Một hôm đi làm về người
chồng mắc phải cơn mưa phát ốm.
Bệnh tình cứ trầm trọng lên mãi, biến
chứng ra nhiều bệnh khác và có mòi không qua
được. Thấy vậy, người chồng
gọi vợ lại bên cạnh giường
như để trối trăn mấy lời
cuối cùng. Anh nói: "Có lẽ, Chúa sắp cất
anh về. Anh xin vâng Thánh ý Chúa. Cám ơn em và để
chứng tỏ tình yêu vĩnh cửu của anh.
Anh xin để lại cho em một vật kỷ
niệm". Nói xong, anh rút ở tay chiếc nhẫn
thành hôn của mình và âu yếm xỏ vào tay vợ,
làm lại cử chỉ ái ân mà hai vợ chồng
đã làm cho nhau cách đây một năm trước
bàn thờ Chúa. Sau khi người chồng qua đời,
người ta thường thấy người
vợ trẻ, đầu chít khăn tang nhiều
lần đi vào nghĩa địa, đến
trước một ngôi mộ cỏ mọc chưa
xanh, cầu nguyện. Nhưng trên tay người
góa phụ có đeo hai chiếc nhẫn: chiếc
nhẫn thành hôn của mình và chiếc nhẫn
kỷ niệm của người chồng quá
cố.
Lùi về
19 thế kỷ trước đây, Chúa Giêsu đã
làm một việc tương tợ. Nhìn thấy
giờ vĩnh biệt sắp đến, Chúa
Giêsu đã "yêu mến các kẻ thuộc về
Ngài còn trong thế gian và Ngài đã yêu mến họ
đến tận cùng" (Gio. 13,1). Ngài đã
lập nên phép Thánh Thể, để lại cho
chúng ta một tang chứng Tình yêu vĩ đại.
Ngài không
để lại vàng bạc trân châu, vì Ngài biết
rằng tiền không nói lên được Tình,
tiền hay phản lại Tình. Ngài không để
lại một bức thư tiễn biệt,
vì thư bất tận ngôn; hay một lời
nói vì lời nói là như hơi gió, có đó và hay
mất đó. Ngài để lại cho chúng ta cái
mà thường tình người ta thường
yêu hơn cả, Ngài để lại chính mình
Ngài.
Dưới
hình bánh hình rượu, như chiếc áo che thân,
trong khi bản chất bánh rượu đã trở
nên Mình và Máu Chúa, Chúa Giêsu đã để lại
cho chúng ta Mình Thánh và Máu Thánh của Ngài. Rước
Mình Chúa và Máu Chúa là gặp gỡ Chúa, là hiệp
nhất với Chúa vậy.
Đây
là Mầu nhiệm Đức Tin.
Mặc
dầu trí khôn ta không hiểu, giác quan ta không cảm.
Đức Tin dạy chúng ta: Chúa ngự thật
trong Bí tích Thánh Thể. Ta tin vì Chúa đã phán và
đã làm. Ta tin vì Ngài là đàng, là sự sống,
là sự thật.
Đây
là mầu nhiệm Tình yêu.
Chúng ta
nhận thấy rằng trong cuộc tử nạn
của Chúa, sự chết và tình yêu gắn liền
với nhau. Nhưng Tình yêu đã thắng và siêu
hóa sự chết, và Bí tích Thánh Thể chính là một
tang chứng sự khởi thắng đó. Vì chết
là chia ly, là vĩnh biệt với người
yêu. Thì Mầu nhiệm Thánh Thể đã thắng
cái định luật ấy. Ngài đã chết
nhưng Ngài đã Phục sinh sống lại.
Và nhờ Mầu nhiệm Phục sinh và Thánh Thể,
Ngài vẫn hiển diện giữa chúng ta và hiệp
nhất với chúng ta. Bữa "tiệc ly"
biến thành bữa "tiệc thánh" mà chúng
ta cũng như bao thế hệ còn tham dự.
Chúa để
lại cho chúng ta Bí tích Thánh Thể như một
tang chứng Tình yêu. Nhưng, qua lời mạc
khải, Chúa muốn cho chúng ta đáp ứng lại
như thế nào?
Khi một
người thân yêu mất đi, để lại
một vật kỷ niệm, chúng ta làm gì? Chúng
ta làm theo ý người quá cố. Hình ảnh của
họ ta treo lên tường để kính nhớ.
Ruộng vườn họ ta khai thác, coi là của
hương hỏa không dám bán...
Chúa để lại cho chúng
ta Thánh Thể như Của Ăn bổ dưỡng,
như hy vật tế lễ và như người
Bạn đường của chúng ta trên đường
dương thế.
Đây là của ăn. "Mỗi
lần anh em ăn Bánh này và uống Chén này, anh
em loan báo sự chết của Chúa, cho đến
lúc Ngài đến" (1 Cor 11, 26).
Trong mỗi
gia đình có một bàn ăn. Trong đại gia
đình Dân Chúa cũng có một Bàn ăn. Đó
là Bàn Rước lễ, ở đó Chúa Giêsu chính
là của ăn, là lương thực nuôi linh
hồn ta. "Thịt Ta thật là của ăn,
Máu Ta thật là của uống" (Gio. 6, 55).
Một định luật của tình yêu là muốn
biến hóa, hiệp nhất với người
yêu. Bà mẹ ẵm đứa con thơ, âu yếm
con, nựng con, có khi cắn con và nói một câu
có vẻ bâng quơ nhưng bao hàm cả một
định luật tâm ly: "Mẹ muốn ăn
con đi!" Tình yêu thì muốn hợp nhất
với người yêu, hai phải nên một.
Cái mà loài người không làm được thì
Thiên Chúa đã làm: "Thịt ta thật là của
ăn, máu ta thật là của uống. Ai ăn
thịt và uống máu ta, người ấy sẽ
ở trong Ta và Ta ở trong người ấy"
(Gio. 6, 55-56).
Ngài khuyến
khích ta, Ngài bắt buộc ta, Ngài đe dọa
nữa, tuy rằng tình yêu không bao giờ nói đến
đe dọa. "Quả thật Ta bảo các
người: Nếu các ngươi không ăn
thịt và uống máu Ta, các ngươi không có
sự sống nơi mình các ngươi. Ai ăn
thịt và uống máu Ta thì có sự sống đới
đời và Ta sẽ cho sống lại trong ngày
sau hết" (Gio. 6, 53-54).
Khi tuyên
bố những lời hằng sống ấy,
hẳn Chúa nhìn thấy trước mắt phản
ứng của nhiều người nghe. Họ
"xô xát nhau" (52) họ cho là "sống
sượng, không thể nghe nổi" (C. 60).
Nhiều môn đệ đã bỏ Ngài rút lui, không
còn đi theo nữa (C. 66). Ngài buồn, nhưng
không cải chính, không rút lui lời nói, vì đây
là lời hằng sống, "kẻ ăn bánh
này sẽ sống đời đời" (C.
59).
Lạy
Chúa, con tin và nói như Phêrô xưa: "Lạy
Thầy, bỏ Thầy con biết đến
với ai? Thầy có lời ban sự sống
đời đời" (Gio. 6, 68).
Ngày nay,
trên thế giới một phần ba nhân loại
sống trong sung túc dư giả, hai phần ba
lâm vào cảnh đói khổ, túng thiếu. Từng
đoàn người miền Bắc Phi châu đang
rơi vao cảnh đói kém kinh khủng. Họ
thất thểu đi kiếm ăn và chết
gầy chết mòn trên những cách đồng
cằn cỗi, đã hàng năm không có giọt
mưa rơi... Họ đói! Nhưng còn một
cái nạn đói khác cũng rất trầm trọng
là Đói Chúa. Và cái nạn đói này không phải
do thiên tai thủy họa gây nên, mà do chính lòng của
con người đã không muốn tiếp nhận
Chúa. Chúa lập nên Thánh Thể như của ăn
Linh hồn nhưng người ta không màng đến.
Giáo Hội
dạy một năm Rước lễ ít là một
lần trong mùa Phục sinh, họ cũng không
nghe. Họ đói nhưng không màng đến của
ăn Chúa dọn sẵn!
Lạy
Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con, nhưng
xin Chúa phán một lời, thì linh hồn con sẽ
lành mạnh.
Phép Thánh
Thể còn là vật lễ hy sinh đền tội
cho chúng ta hết thảy.
Thế
giới ngày nay tràn ngập tội lỗi. Thế
giới ngày nay, như lời Thánh Gióp nói, đáng
cho Chúa cầm đầu ngón tay lắc lư cho
tất cả kẻ có tội rơi xuống
hỏa ngục, như lá vàng rơi lả tả
trong một trận cuồng phong. Thế giới
ngày nay đáng cho Chúa trừng trị vì tội
lỗi, như ngày xưa Chúa sai Thiên thần giết
sạch trên 18 vạn quân của tướng Sennacherib
và 2 vạn dân Do thái vì đã phạm tội ô uế
trước mặt Đức Giavê ( 2 Các Vua, 19,
35). Nhưng, vì sao cầu vòng hòa bình vẫn mọc
lên sau những trận mưa ngàn nước lũ?
Là vì, thánh Anphongsô nói, đã có Chúa Giêsu giang tay ra
như đón nhận tất cả cơn ngải
nộ của Thiên Chúa. "Mỗi lần anh em
ăn Bánh này và uống chén này, anh em loan báo sự
chết của Chúa, cho đến khi Chúa lại
đến" (I Cỏ. 11, 26). Thánh lễ là hy
lễ mà Chúa Giêsu, nhờ tay linh mục, hợp
cùng toàn thể dân Chúa, dâng mình cho Đức Chúa
Cha, để đền tội nhân loại, như
xưa chính người đã dâng mình trên Thánh giá.
Vật lễ hy tế, bàn thờ trong Thánh lễ
là biểu tượng tha thứ, cũng như
để kính nhớ mầu nhiệm Chúa chịu
chết và sống lại, cùng trông đợi
Người lại đến trong vinh quang, đồng
thời để thờ phượng, tạ
ơn và xin ơn lành hồn xác.
Khi đô
đốc Magellan dẫn một đạo thuyền
buồm đi thám hiểm Phi luật tân, vừa
ra giữa biển khơi thì gặp bão tố.
Gió đánh chìm một số lớn, chỉ còn
lại chiếc thuyền của Đô đốc
đang bềnh bồng trôi dạt trên sóng nước.
Mọi người đều tựu lại
trên cầu tàu để chờ chết. Nhìn thấy
bên cạnh mình có một bà mẹ ẵm đứa
con thơ, Đô đốc xin đứa bé. Rồi
cầm nó trong tay, giơ lên trời và nói: "Lạy
Chúa, chúng tôi là kẻ tội lỗi đáng chết
chìm dưới vực thẳm này. Nhưng xin
Chúa hãy nhìn xem đứa bé vô tội này và tha thứ
cho chúng tôi". Lịch sử kể rằng:
nguyện xong câu ấy thì gió yên và biển lặng.
Cái cảnh đó, phải chăng hằng ngày
vẫn tái diễn? Mỗi ngày, cứ hai phút một,
có một linh mục nào đó đã cầm Mình
Thánh Chúa trong tay, giơ lên trời và nói: Lạy
Chúa Cha, con và đoàn chiên con tội lỗi đáng
Chúa trừng phạt. Nhưng xin Chúa nhìn xem Con
Chiên trong sạch này (Gio. 1, 29) và tha-thứ cho chúng
con. "Thánh Anphongsô nói: "Sở dĩ Chúa không
hủy diệt thế giới vì tội lỗi
là nhờ thần lực của Thánh lễ".
Thánh lễ
ban cho bạn được dự phần vào
hiến tế trên thánh gia, một hiến tế
hoàn hảo nhất. Thánh lễ chúc tụng cảm
tạ, Chúa một cách toàn vẹn nhất, cầu
xin tha thứ cách trọn hảo nhất. Thánh
lễ là một tế lễ ngơi khen, cảm
tạ, đền tội và cầu xin toàn vẹn
nhất. Tham dự Thánh lễ là gặp gỡ
Chúa vậy.
Ngọn
đèn lập lòe trước nhà tạm kia trong
một ngôi Thánh đường, có vẻ thật
nên thơ nhưng nó báo hiệu thực thể
sự hiển diện của Chúa Giêsu. Ngài đang
ở đó như đối tượng hiện
hữu và sống động của Đức
Tin và đức Mến của Bạn. Bạn
hãy đến gặp gỡ Ngài như người
ta đến tâm sự với một người
Bạn. Chúa Giêsu Thánh Thể chính là người
Bạn đường của Bạn. Người
ta nói rằng: Ngày xưa, khi Đức khổng
phu tử qua đời, các đồ đệ
vì thương nhớ mến mộ Thầy, một
số đã dời nhà cửa ra ở xung quanh
phần mộ của Thầy. Là một nhà hiền
triết thật đáng kính, Đức Khổng
cũng là thân phận con người chỉ để
lại một nắm xương tàn. Với thời
gian, các đệ tử cũng tản mác, có nhớ
Thầy là nhớ trong điển kinh sách vở
Thầy để lại. Chúa Giêsu, Thầy chí
thánh, hiện đang ở lại đây trong nhà
tạm, không phải dưới hình thức kinh
kiển hay tro tàn, mà hiển diện với tất
cả bản thể của Ngài dưới hình
bánh và hình rượu. "Thầy sẽ ở
với chúng con mọi ngày cho đến tận
thế" (Mt. 28, 20), là một lời hứa
luôn luôn cứu giúp một cách quyền năng,
nhưng cũng ám chỉ sự hiển diện
của Đấng là Emmanuel (Mt. 1, 23), là bánh bởi
trời xuống (Gio. 6 58).
Chúa là người
bạn đường của Bạn. Ngài ngự
ở đây, giữa thành phố, bên cạnh gia
đình của Bạn. Lúc vui lúc buồn, Bạn
có thể đến với Ngài, để cùng
Ngài tâm sự và chia sẻ. "Hỡi ai khó nhọc
và gánh nặng hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho
nghỉ ngơi lại sức" (Mt 11,28).
Lạy
Chúa, chúng con tin,
Chúng con
thờ lạy,
Chúng con
yêu mến,
Xin Chúa
hãy ngự vào lòng chúng con.
|
|