|
|
Chúa
quan phòng bảo vệ kẻ tín nghĩa
(Ca Vịnh Tobia, Kinh Ban Mai, Ngày Thứ Ba, Tuần
Thứ Nhất)
1. ''Tôi
tôn tụng Chúa Trời tôi và thần trí tôi hân hoan
trong Ðức Thiên Vương'' (Tb 13:7). Người
nói những lời này trong Bài Ca Vịnh vừa
được xướng lên là Tôbia cha, nhân vật
được Cựu Ước kể lại
bằng một câu truyện ngắn xây dựng
trong cuốn sách (theo bản dịch Vulgata) mang
tên Tôbia con ông. Ðể hiểu được đầy
đủ ý nghĩa của bài thánh thi này, chúng
ta phải để ý đến những đoạn
truyện trước đó. Câu truyện xẩy
ra nơi người Do Thái lưu đầy ở
Ninivê. Khi viết lại câu truyện này ở
các thế kỷ sau đó, vị tác giả sách
thánh coi cha con họ như là một tấm gương
soi cho anh chị em sống niềm tin đang bị
phân tán nơi ngoại nhân cũng như đang
bị cám dỗ bỏ đi truyền thống
của cha ông mình. Chân dung của Tôbia và gia đình
ông được trình bày cho thấy như là
một mẫu sống. Ðó là một người
đàn ông, bất chấp mọi sự xẩy
ra cho mình, vẫn trung thành với qui định
của lề luật, nhất là với việc
làm phúc bố thí. Ông đã gặp phải bất
hạnh với nạn bần túng và mù lòa, nhưng
vẫn không bao giờ thôi tin tưởng.
Chẳng
bao lâu Thiên Chúa đã đáp ứng qua Tổng Thần
Raphael, vị đã dẫn dắt Tobia con trong
cuộc hành trình gian nan, đã chỉ dẫn cho
chàng có được một cuộc hôn nhân hạnh
phúc, và cuối cùng đã chữa lành cho người
cha khỏi cảnh mù lòa.
Sứ
điệp rõ ràng ở đây là những ai lành
thánh, nhất là bằng việc mở lòng mình
ra cho nhu cầu của tha nhân, đều là những
người sống đẹp lòng Chúa, cho dù họ
có bị thử thách; cuối cùng họ cũng
sẽ cảm nhận được lòng lành của
Chúa.
2. Với
ý tưởng gợi ý này, những lời của
bài thánh thi mới sáng tỏ hơn. Chúng mời
gọi chúng ta hãy hướng tầm mắt của
mình nhìn lên ''Thiên Chúa là Ðấng muôn đời hằng
sống'', nhìn đến vương quốc của
Ngài là vương quốc ''tồn tại qua mọi
thế hệ''. Từ việc chiêm ngưỡng
Thiên Chúa như thế, tác giả sách thánh đã
cống hiến cho chúng ta thấy một chấm
phá về thần học lịch sử mà ông đã
cố gắng để trả lời cho vấn
đề được gợi lên bởi thành
phần Dân Chúa bị phân tán và thử thách, đó
là vấn đề tại sao Thiên Chúa lại
đối xử với chúng ta như thế?
Câu trả lời qui về cả đức công
minh và tình thương thần linh: ''Ngài nghiêm trị
các người về những bất chính của
các người, nhưng Ngài lại tỏ lòng
xót thương tất cả các người''
(câu 5). Như thế, việc nghiêm trị như
thể là một đường lối giáo dục
thần linh, được tận kết ở
lòng xót thương: ''Ngài hành hạ rồi lại
tỏ lòng xót thương, Ngài đầy xuống
đáy âm phủ rồi Ngài lại đưa lên
từ vực sâu'' (câu 2).
Người
ta có thể tuyệt đối tin tưởng
vào Thiên Chúa là Ðấng không bao giờ bỏ rơi
tạo vật của Ngài. Hơn nữa, những
lời của bài thánh thi còn hướng tới
một quan điểm khác nữa, quan điểm
qui ý nghĩa cứu độ cho hoàn cảnh đau
thương, biến nơi lưu đầy
thành cơ hội chúc tụng những việc
làm của Thiên Chúa: ''Hỡi các người Yến
Duyên, hãy chúc tụng Ngài trước các Dân Ngoại,
vì mặc dầu Ngài đã phân tán các người
nơi họ, Ngài cũng đã chứng tỏ
cho thấy Ngài cao cả ngay ở nơi đó
nữa'' (các câu 3-4).
3. Khởi
từ lời mời gọi để dẫn
giải cuộc lưu đầy theo đường
lối quan phòng như thế, việc suy niệm
của chúng ta có thể liên quan tới việc
chú ý đến ý nghĩa tích cực nhiệm mầu
nơi đau khổ, khi chúng ta sống đau
khổ trong sự phó mình cho ý định của
Thiên Chúa. Trong Cựu Ước cũng đã có
một vài đoạn cho thấy đề tài
này. Hãy nhớ lại câu truyện về Giuse trong
Sách Khởi Nguyên (x 37:2-36), người bị
anh em mình bán đi và đã thành nhân vật cứu
vớt họ sau này. Chúng ta làm sao quên được
sách ông Gióp? Nơi đây cho thấy một con
người vô tội chịu đau khổ và
không biết diễn tả thảm trạng của
mình ra sao, ngoại trừ phó mình cho sự cao cả
cũng như cho đức khôn ngoan của Thiên
Chúa (x Jb 42:1-16).
Ðối
với chúng ta là những người đọc
những đoạn Cựu Ước này theo
quan điểm Kitô giáo, điểm qui chiếu
chỉ có thể là Thập Giá Chúa Kitô, một
Thập Giá cống hiến cho chúng ta câu trả
lời sâu xa về mầu nhiệm đau khổ
trên thế gian này.
4. Ðối
với các tội nhân, thành phần bị nghiêm
trị vì những việc làm bất chính của
họ (x. câu 5), bài thánh thi của Tôbia phát lên một
tiếng gọi trở về, một tiếng
gọi cho thấy khía cạnh lạ lùng về
một cuộc trở về ''với nhau'' giữa
Thiên Chúa và con người: ''Khi các người
hết lòng trở về với Ngài, làm những
gì chính đáng trước nhan Ngài, bấy giờ
Ngài sẽ quay về lại với các người,
và sẽ không còn giấu mặt khỏi các người
nữa'' (câu 6). Việc sử dụng từ ngữ
''trở về'' đối với tạo vật
cũng như đối với Thiên Chúa đều
nói lên cho thấy tính cách nhấn mạnh của
nó, dù có khác ý nghĩa nhau.
Nếu
tác giả của bài Ca Vịnh nghĩ về những
thiện ích đi kèm với việc ''trở về''
cùng Thiên Chúa, đó là việc Ngài lại tỏ
lòng ưu ái đối với dân Ngài, trong chiều
hướng của mầu nhiệm Chúa Kitô, chúng
ta trước hết phải nghĩ về tặng
ân bao gồm cả chính Thiên Chúa nữa. Con người
cần đến Ngài hơn tất cả mọi
tặng ân của Ngài. Tội lỗi là một
thảm họa không phải vì nó làm cho Thiên Chúa
giáng phạt chúng ta, mà vì nó loại trừ Ngài
khỏi lòng trí của chúng ta.
5. Bài
Ca Vịnh này hướng mắt chúng ta nhìn lên
nhan Thiên Chúa là Cha, kêu gọi chúng ta hãy chúc tụng
và ca khen Ngài: ''Ngài là Chúa, Thiên Chúa của chúng tôi,
là Cha của chúng tôi''. Người ta cảm thấy
ý nghĩa làm con cái đặc biệt như dân
Yến Duyên có nhờ tặng ân giao ước,
cũng là ý nghĩa làm con cái dọn đường
cho mầu nhiệm Nhập Thể của Con Thiên
Chúa. Thế rồi, nơi Chúa Giêsu, dung nhan của
Cha sẽ chiếu soi và tình thương của
Ngài sẽ được tỏ hiện.
Ở
đây chúng ta có thể nghĩ đến dụ
ngôn Người Cha nhân hậu được
Phúc Âm Thánh Luca thuật lại. Người Cha
chẳng những tỏ ra thứ tha cho người
con hoang đàng trở về, mà còn tha thứ bằng
cả một tấm lòng thiết tha vô cùng êm ái,
hòa với niềm hân hoan và cuộc thiết đãi.
''Khi hắn còn ở đàng xa, người cha
đã trông thấy hắn và động lòng thương.
Ông đã chạy đến với đứa
con của mình, ôm chấm lấy hắn mà hôn''
(Lk 15:20). Những lời diễn tả của
bài Ca Vịnh của chúng ta hợp với hình
ảnh cảm động của Phúc Âm. Cần
phải bộc lộ lời ca khen và cảm tạ
Thiên Chúa: ''Vậy giờ đây các người
hãy để ý đến những gì Ngài đã
làm cho các người và hãy hết lời ca khen
Ngài. Chúc tụng Chúa của đức công chính
và tôn tụng Ðức Vua muôn thế hệ'' (câu
7).
(L'Osservatore
Romano, ấn bản Anh ngữ, ngày 1/8/2001)
|
|