|
|
Chúc
tụng Chúa là vua cả trên khắp hoàn cầu
(Thánh
Vịnh 46 [47], Kinh Ban Mai, Ngày Thứ Tư, Tuần Thứ Nhất)
1. "Lạy
Chúa, Ðấng Tối Cao, là Vua cả
trên khắp hoàn cầu!". Tiếng kêu
lên khởi đầu này được
lập lại bằng nhiều cung điệu
khác nhau trong Thánh Vịnh 46 (47), Thánh
Vịnh chúng ta vừa nguyện cầu. Thánh
Vịnh này được sáng tác như
một bản thánh thi dâng lên Vị
Chúa thống trị của vũ trụ cũng
như của lịch sử: "Thiên Chúa
là vua trên khắp cả hoàn cầu...
Thiên Chúa cai trị tất cả mọi
dân nước" (các câu 8 và 9). Như
những sáng tác tương tự khác
của Thánh Vịnh (x Ps 92; 95-98), bài thánh
thi dâng lên Vị Chúa là vua của
thế giới cũng như của nhân loại
này mặc lấy một cung cách cử
hành phụng vụ. Vì lý do đó,
chúng ta đang ở ngay tâm điểm
của việc dân Yến Duyên chúc tụng
thiêng liêng, một việc chúc tụng
dâng lên trời cao từ Ðền Thờ,
nơi Thiên Chúa vô cùng và hằng
hữu tỏ mình ra và gặp gỡ dân
Ngài.
2. Chúng
ta sẽ theo bài ca vịnh hân hoan chúc
tụng này tiến vào những giây
phút trọng yếu của nó như hai
triều sóng của biển khơi tuôn
dạt vào bờ. Hai giòng hải triều
này khác nhau ở chỗ, chúng cho thấy
mối liên hệ giữa dân Yến Duyên
và các dân nước. Trong phần đầu
của bài thánh vịnh, mối liên
hệ này là một mối liên hệ
thống trị: Thiên Chúa "đã bắt
các dân tộc qui phục chúng ta, Ngài
đã đặt các dân nước
dưới chân chúng ta" (câu 4); trái
lại, ở phần thứ hai, mối liên
hệ ấy lại là một mối liên
hệ liên kết: "Các vị hoàng gia
của các dân tộc tụ họp lại
với dân Chúa của Abraham" (câu 10).
Người ta có thể thấy được
bước tiến bộ cả thể. Nơi
phần thứ nhất (x từ câu 2 đến
6), bài thánh vịnh viết: "Hỡi tất
cả dân tộc các người, hãy
vỗ tay, hãy reo hò Thiên Chúa bằng
những tiếng kêu hoan hỉ!" (câu 2).
Tâm điểm của cuộc vỗ tay reo
mừng này là hình ảnh uy nghi cao cả
của Vị Chúa tối cao, Ðấng được
bài thánh vịnh gán cho ba danh hiệu
hiển vinh, đó là "tối cao, cao cả
và đáng sợ" (câu 3). Ba danh hiệu
này nói lên siêu việt tính của
Thiên Chúa, nói lên chủ quyền
tuyệt đối của hữu thể, của
quyền toàn năng. Chúa Kitô phục
sinh sau này cũng đã kêu lên: "Tất
cả mọi quyền năng trên trời
dưới đất đã được
ban cho Thày" (Mt 28:18).
3. Nơi
chủ quyền phổ quát của Thiên
Chúa trên tất cả mọi dân tộc
trên trái đất này (x câu 4), tác
giả Thánh Vịnh nhấn mạnh đến
việc Ngài hiện diện đặc biệt
nơi dân Yến Duyên, dân Thiên Chúa
tuyển chọn, "thành phần ưu ái",
một gia sản cao quí và thân mến
nhất của Ngài (x câu 5). Dân Yến
Duyên là đối tượng của tình
Thiên Chúa đặc biệt yêu thương,
một tình yêu được thể hiện
bằng việc chiến thắng các nước
đối phương. Trong cuộc đấu
tranh này, việc hiện diện của Hòm
Bia Giao Ước ở với các quân đoàn
của Yến Duyên làm cho họ yên
tâm về ơn phù trợ của Thiên
Chúa; sau khi chiến thắng, Hòm Bia về
lại Núi Sion (x Ps 67 [68]:19) và mọi người
hô lên rằng: "Thiên Chúa ngự lên
ngai tòa của Ngài giữa hò reo mừng
rỡ, Chúa ngự lên giữa tiếng
kèn vang" (Ps 46 [47]: 6).
4. Phần
thứ hai của bài Thánh Vịnh này
(x từ câu 7 đến câu 10) mở ra
với một triều sóng chúc tụng
khác cùng với lời hoan ca: "Hãy hát
khen Thiên Chúa, hãy hát khen; hãy hát
khen vua của chúng ta... hãy hát những
bài thánh thi chúc tụng!" (các câu
7-8). Cho dù người ta có hát khen Chúa
ngự trên ngai tòa của Ngài, Ðấng
nắm trong tay tất cả chủ quyền (x
câu 9). Vương tòa được coi
là "thánh", bởi vì con người hữu
hạn và tội lỗi không thể tiến
tới đó được. Thế nhưng,
Hòm Bia Giao Ước hiện diện nơi
cực thánh của Ðền Thờ ở
Sion cũng là một thiên ngai. Nhờ đó,
Vị Thiên Chúa xa cách và siêu việt,
thánh hảo và vô cùng, mới gần
gũi với tạo vật của Ngài, hòa
mình với không gian và thời gian (x
1Kgs 8:27, 30).
5.
Bài thánh vịnh được kết
thúc bằng một nhận định lạ
lùng có tính cách cởi mở đại
đồng: "Các vị hoàng gia của các
dân tộc qui tụ lại với dân Chúa
của Abraham" (câu 10). Một nhận định
trở về với tổ phụ Abraham là
gốc nguồn chẳng những của dân
Yến Duyên mà còn của cả các
dân tộc khác nữa. Sứ mệnh làm
cho tất cả mọi dân nước và
tất cả mọi văn hóa qui về Chúa
được ủy thác cho dân tuyển
chọn là giòng dõi của ông, vì
Ngài là Thiên Chúa của toàn thể
nhân loại. Từ Ðông sang Tây nhân
loại sẽ qui tụ ở Sion để gặp
gỡ vị vua của hòa bình và yêu
thương, của hiệp nhất và huynh
đệ (x Mt 8:11). Như tiên tri Isaia hy vọng,
các dân tộc thù địch nhau sẽ
nhận được lời mời gọi
là hãy bỏ khí giới xuống và
hãy cùng nhau chung sống dưới vương
quyền của Thiên Chúa, dưới một
thể chế của công lý và hòa
bình (x Is 2:2-5). Tất cả mọi người
gắn mắt hướng về tân đô
Giêrusalem, nơi Chúa "đang ngự đến",
được tỏ hiện trong vinh quang của
thần tính Ngài. Sẽ có "một đám
đông vô vàn không ai đếm nổi
từ mọi đất nước, mọi sắc
chủng, mọi dân tộc và mọi ngôn
ngữ mà đến... họ lớn tiếng
kêu lên: Ơn cứu độ thuộc
về Thiên Chúa chúng ta, Ðấng ngự
trên ngai của mình, cũng như thuộc
về Con Chiên" (Rev 7:9-10).
6. Bức
Thư gửi Giáo Ðoàn Êphêsô
thấy được việc hiện thực
của lời tiên tri này nơi mầu
nhiệm Chúa Kitô Cứu Thế, khi xác
nhận với Kitô hữu không thuộc
về Do Thái giáo là: "Anh em hãy nhớ
rằng dân ngoại anh em từ bẩm sinh
... vốn không thuộc về Chúa Kitô,
không có quyền công dân Yến Duyên,
ở ngoài giao ước của lời hứa,
không biết hy vọng và không biết
đến Thiên Chúa trên thế gian này
là gì. Thế mà, giờ đây, trong
Chúa Giêsu Kitô, anh em là những người
vốn xa lạ nay bởi máu của Chúa
Kitô đã được mang lại gần.
Thật vậy, Người là bình an của
chúng ta, Người là Ðấng làm
cho cả hai nên một dân tộc, khi phá
hủy đi bức tường thù nghịch
cách ngăn" (2:1-14).
Bởi
thế, trong Chúa Kitô, vương quyền
của Thiên Chúa, như bài thánh vịnh
của chúng ta xướng lên, được
hiện thực trên thế gian nơi cuộc
gặp gỡ của tất cả mọi dân
tộc. Ðó là cách dẫn giải
về mầu nhiệm này của một bài
giảng vô danh vào thế kỷ thứ
tám: "Cho đến khi Ðấng Thiên Sai
là niềm hy vọng của các dân nước
đến, các Dân Ngoại không biết
tôn thờ Thiên Chúa và không biết
Ngài là ai. Cho đến khi Ðấng Thiên
Sai cứu chuộc họ, Thiên Chúa không
cai trị các dân nước bằng việc
họ tuân phục và tôn thờ Ngài.
Giờ đây, bằng Lời của mình
cũng như bằng Thần Linh của mình,
Thiên Chúa mới cai trị họ, vì
Ngài đã cứu họ khỏi lừa
đảo và biến họ thành bạn
hữu của Ngài" (Anonymous Palestinian, Arab-Christian
Homily of the Eighth Century, Rome 1994, p. 100).
(L’Osservatore Romano, ấn bản Anh ngữ,
ngày 12/9/2001)
|
|