|
|
Chúa
luôn đứng về bên kẻ tín nghĩa
(Thánh
Vịnh 56 [57], Kinh Ban Mai, Ngày Thứ Năm, Tuần Thứ Nhất)
1.
Bấy giờ là một đêm tối;
những con dã thú hung dữ như đang
lẩn quẩn đâu đó. Con người
cầu nguyện ở đây đang đợi
chờ hừng đông lên cho ánh sáng
phá tan âm u và sợ hãi. Bối cảnh
của bài Thánh Vịnh 56 (57) chúng ta
đang suy niệm hôm nay là như thế.
Bài Thánh Vịnh này là một lời
kinh đêm được con người cầu
nguyện đây dâng lên vào lúc
bình minh của một ngày sống, một
bình minh được ngong ngóng đợi
chờ, để có thể hân hoan chúc
tụng Chúa (x các câu 9-12). Thật vậy,
bài thánh vịnh đi từ lời than
van thảm thiết ngỏ cùng Thiên Chúa
tiến đến niềm hy vọng an bình
cùng với một nỗi vui mừng cảm
tạ, một nỗi niềm vang lên những
lời lẽ cũng được lập lại
trong một bài thánh vịnh khác (x 107
[108]: 2-6).
Thực
thế, con người cần phải vượt
qua từ sợ hãi đến vui mừng,
từ đêm tối đến ngày sống,
từ ác mộng đến an bình, từ
khẩn nguyện đến chúc tụng. Ðó
là một cảm nghiệm thường được
Thánh Vịnh nói đến: "Ngài
đã biến cảnh than khóc của tôi
thành ca mừng, Ngài đã lột bỏ
áo khổ hạnh để mặc cho tôi
nỗi hân hoan. Tôi không ngừng hát
khen chúc tụng Chúa với cả con người
tôi. Lạy Chúa là Thiên Chúa của
tôi, muôn đời tôi sẽ tri ân
cảm tạ Chúa" (Ps 29:12-13).
2.
Thánh Vịnh 56 (57) chúng ta đang
suy niệm đây có hai phần. Phần
thứ nhất là cảm nghiệm sợ hãi
trước cuộc tấn công của sự
dữ là những gì muốn tấn công
kẻ công chính (x các câu 2-7). Ở
giữa cảnh tượng này có những
con sư tử rình chờ tấn công.
Hình ảnh này chẳng mấy chốc
biến thành một bức tranh chiến tranh,
toàn là những đao thương, cung
tên và gươm giáo. Con người
cầu nguyện ở đây cảm thấy
mình bị tấn công bởi một thứ
đạo quân tử thần. Chung quanh họ
là một lũ săn bắt đặt cạm
bẫy và hầm hố bắt mồi. Thế
nhưng, cảnh tượng căng thẳng
này đột nhiên bị giải tỏa.
Thật thế, ngay từ đầu (xem câu
2) đã xuất hiện những cánh thần
linh cho thấy có một sự bao che bảo
vệ, một sự bao che bảo vệ ám
chỉ đặc biệt đến Hòm Bia
Giao Ước có thần Cherubim tỏa cánh,
dấu hiệu Thiên Chúa hiện diện
giữa kẻ tín nghĩa của Ngài nơi
đền thánh ở Núi Sion.
3.
Con người cầu nguyện ở đây
thiết tha xin Thiên Chúa từ trời sai
đến những vị sứ giả được
Ngài gán cho những danh hiệu tiêu biểu
như "Tín Ðức" và "Ân
Sủng" (câu 4), những tính chất
xứng hợp với tình yêu cứu độ
của Thiên Chúa. Vì lý do đó,
cho dù ngay cả lúc Ngài làm cho những
con dã thú gầm thét phải khiếp
đảm và những kẻ bách hại
phải kinh hồn thì kẻ tín trung trong
lòng vẫn an bình và tin tưởng,
như Ðaniên trong hang sư tử vậy
(xem Dn 6:17-25).
Việc
Thiên Chúa không trì hoãn ra mặt
của Ngài, ở chỗ, việc Ngài ra
mặt này cho thấy cái tác hiệu
làm cho đối phương của Ngài
phải tự chuốc lấy cho họ án
phạt, khi họ bị rơi ngay xuống hố
do họ đào ra để đánh bẫy
người công chính (xem câu 7). Niềm
tin tưởng cậy trông như vậy,
một niềm tin cậy luôn được
bộc lộ nơi Thánh Vịnh, làm biến
tan nỗi thất đảm và sự qui hàng
quyền lực sự dữ. Không sớm
thì muộn Thiên Chúa cũng đứng
về bên hàng ngũ người tín
nghĩa, bằng cách đảo lộn những
kế hoạch của kẻ gian ác, lột
trần những ý đồ xấu xa của
họ.
4. Bây
giờ chúng ta tiến sang phần thứ hai
của bài Thánh Vịnh, phần tri ân
cảm tạ (xem các câu 8-12). Một luồng
sáng mãnh liệt và tuyệt vời hiện
lên, đó là "Lòng tôi kiên
vững, Ôi Thiên Chúa, lòng tôi kiên
vững. Tôi sẽ xướng hát ca lên.
Hồn tôi ơi hãy thức dậy đi.
Hãy thức dậy đi nào thụ cầm
và thất huyền cầm. Tôi sẽ đánh
thức hừng đông dậy" (các
câu 8-9). Bấy giờ tối tăm đã
bị tan biến, ở chỗ bình minh cứu
độ đã làm cho bài ca của
con người cầu nguyện đây khởi
sắc.
Áp
dụng hình ảnh này vào mình, vị
Tác Giả Thánh Vịnh như muốn chuyển
dịch nó thành những kiểu tượng
hình của Thánh Kinh, một kiểu tượng
hình thật là độc thần, một
tập tục của những vị tư tế
người Ai Cập hay người Phoenicia,
những vị có trách nhiệm "đánh
thức bình minh", có trách nhiệm
làm cho mặt trời tái hiện, vì
mặt trời được coi như một
vị thần phước lộc. Vị Tác
Giả Thánh Vịnh còn đề cập
đến việc treo cất đi những nhạc
cụ vào lúc khóc than và thử thách
(xem Ps 136 [137]: 2), cũng như đến việc
"đánh thức" chúng dậy để
chúng vang lên tiếng hân hoan vào những
lúc được giải phóng và vui
mừng. Phụng vụ bừng lên niềm
hy vọng, đó là việc con người
hướng về Thiên Chúa, xin Ngài
đến với dân Ngài một lần
nữa, cũng như xin Ngài hãy nhậm
lời họ nguyện cầu. Bình minh trong
Thánh Vịnh thường là lúc Thiên
Chúa ban hồng ân sau đêm tối nguyện
cầu.
5. Bài
Thánh Vịnh kết thúc bằng một
bài thánh thi chúc tụng Chúa, Ðấng
đã hoạt động với hai phẩm
tính cứu độ cao cả của Ngài,
hai phẩm tính cứu độ được
diễn tả bằng những danh hiệu khác
nhau nơi phần khẩn cầu thứ nhất
(xem câu 4). Bởi vậy, được nhân
cách hóa một cách tượng trưng,
Thiện Hảo Tính và Tín Trung Tính
thần linh đã nhập cuộc. Hai tính
chất này hiện diện tràn đầy
các tầng trời và như một thứ
ánh sáng chiếu trong tăm tối của
những cuộc thử thách và bách
hại (xem câu 11). Vì lý do này, truyền
thống Kitô giáo đã dùng Thánh
Vịnh 56 (57) như là một ca vịnh thao
thức để đón mừng ánh sáng
và niềm vui của Lễ Phục Sinh, một
thứ ánh sáng và niềm vui đẩy
lui nỗi sợ hãi chết chóc và mở
ra chân trời hiển vinh thiên quốc
cho người tín hữu.
6. Thánh Grêgôriô
Nyssa đã khám phá thấy nơi những
lời của bài Thánh Vịnh này một
loại thể thức chung về những gì
xẩy ra làm ai cũng cảm thấy nhận
thức được sự khôn ngoan của
Thiên Chúa. Thánh nhân kêu lên:
"Thật vậy, Ngài đã cứu độ
tôi khi bao phủ tôi bằng mây Thần
Linh, và những ai giầy đạp tôi
đều bị bẽ bàng hổ ngươi"
(Theo bản dịch Latinh Về Những Danh Hiệu
của Các Bài Thánh Vịnh", Rôma,
1994, trang 183).
Sau đó, trích lại những
lời diễn đạt ở cuối bài
Thánh Vịnh, chỗ có câu "Ôi
Thiên Chúa, xin hãy thượng tôn
trên các tầng trời. Chớ gì vinh
quang của Chúa tỏa xuống trên trái
đất", thánh nhân kết thúc:
"Khi vinh quang Thiên Chúa tỏa rạng
trên trái đất, sáng tỏ nơi
đức tin của những ai được
cứu độ, là lúc các quyền
lực trên trời tôn tụng Thiên
Chúa, hoan hỉ vì ơn cứu độ
của chúng ta" (cùng nguồn vừa
dẫn trang 184).
|
|