|
|
Tôi
đã lỗi phạm đến chính Chúa
(Thánh Vịnh 50 [51],
Kinh Ban Mai, Ngày Thứ Sáu, Tuần Thứ
Nhất)
1.
Chúng ta vừa nghe bài Miserere là một
trong những kinh nguyện nổi tiếng của
Thánh Vịnh, một thánh vịnh thống
hối thiết tha và thông dụng nhất,
một thánh thi về việc vấp phạm
và lòng tha thứ, một suy niệm sâu
xa về lầm lỗi và ân sủng. Phụng
Vụ Giờ Kinh sắp xếp để chúng
ta cầu nguyện bằng thánh vịnh này
vào Kinh Ban Mai của mỗi ngày Thứ
Sáu. Qua bao thế kỷ, lời nguyện cầu
này đã được dâng lên
trời cao từ cõi lòng của nhiều
tín đồ Do Thái và Kitô Hữu,
như một nỗi thổn thức của lòng
thống hối cũng như của niềm
hy vọng nơi một Vị Thiên Chúa
từ bi nhân hậu.
Truyền
thống Do Thái đã đặt bài
thánh vịnh này nơi môi miệng của
Ðavít, một con người đã thống
hối nhờ những lời nghiêm thẳng
của tiên tri Nathan (x các câu 1-2, 2Sam
11-12), vị đã quở trách vua về
việc vua ngoại tình với Bathsheba cũng
như về việc vua mưu đồ sát
hại Uria chồng của bà. Tuy nhiên,
bài thánh vịnh đã trở nên
phong phú hơn ở vào những thế
kỷ sau đó, nhờ lời nguyện cầu
của biết bao nhiêu là tội nhân
khác nữa, thành phần, theo giáo huấn
của tiên tri Giêrêmia và Eâzêkiên
(xem câu 12; Jer 31: 13-34; Ez 11:19, 36:24-28), đã
ý thức được vấn đề
"trái tim mới" và "Thần Linh" Thiên
Chúa nơi con người được cứu
chuộc.
2. Thánh Vịnh 50 (51) cho chúng ta thấy
hai chân trời. Trước hết là vùng
tăm tối của tội lỗi (xem các
câu 3-11) là nơi con người thuộc
về ngay từ khi bắt đầu hiện
hữu: "Này đây tôi đã được
sinh ra trong tội lỗi, tôi đã được
thụ thai như là một tội nhân"
(câu 7). Cho dù lời tuyên nhận này
không được coi như là một
công thức hiển nhiên về tín điều
nguyên tội là tín điều đã
được thần học Kitô giáo
xác nhận, song lời tuyên nhận này
thật là tương hợp với tín
điều ấy: thật vậy, lời tuyên
nhận này nói lên cho thấy chiều
kích sâu xa của tình trạng yếu
hèn bẩm sinh về luân lý nơi con
người. Phần thứ nhất của bài
Thánh Vịnh hiện lên như là một
phần phân tách về tội lỗi trước
nhan Thiên Chúa. Ba từ ngữ Do Thái
được sử dụng đến ở
đây để nói lên thực tại
buồn thảm này, một thực tại
xẩy ra bởi việc lạm dụng tự
do của con người.
3. Từ ngữ thứ nhất là hattá,
nghĩa đen là "bị hụt hẫng": tội
lỗi là một tình trạng lệch lạc
đẩy chúng ta xa khỏi Thiên Chúa
là đích điểm cốt yếu cho
mối liên hệ của chúng ta, bởi
thế, nó cũng đẩy chúng ta xa khỏi
tha nhân nữa. Từ ngữ Do Thái thứ
hai là awôn, một từ ngữ đưa
chúng ta tới hình ảnh "ngoằn ngoèo"
hay "cong queo". Tội lỗi là tình trạng
sai biệt lung tung không đúng với những
gì là ngay thẳng; nó là một thứ
đảo lộn, xiên xẹo, méo mó
về sự thiện và sự dữ; như
ý nghĩa được tiên tri Isaia tuyên
cáo: "Khốn cho những ai cho tốt là
xấu và xấu là tốt, những ai
biến tối tăm thành ánh sáng và
ánh sáng thành tối tăm" (5:20). Chắc
vì lý do này mà việc hoán cải
theo Thánh Kinh mới được cho là
một cuộc "trở về" (theo tiếng Do
Thái là shub) với đường ngay nẻo
chính, khi con người sửa chữa lại
đời sống của mình. Từ ngữ
thứ ba tác giả thánh vịnh sử
dụng để nói về tội là peshá.
Tiếng này nói lên cho thấy việc
bầy tôi nổi lên chống lại thượng
cấp của mình, và bởi đó
cũng cho thấy việc họ ngang nhiên
đối đầu với Thiên Chúa cũng
như với dự án của Ngài nơi
lịch sử nhân loại.
4. Tuy nhiên, nếu
con người thú nhận tội lỗi của
mình thì đức công minh cứu độ
của Thiên Chúa lúc nào cũng sẵn
sàng thanh tẩy họ tận gốc rễ.
Bởi vậy, chúng ta tiến sang phần
ý nghĩa thứ hai của bài thánh
vịnh, đó là lãnh giới rạng
ngời của ân sủng (xem các câu
12-19). Bằng việc thú nhận tội lỗi,
con người cầu nguyện sẽ thấy
hiện lên một chân trời sáng lạn
là nơi Thiên Chúa sinh động. Chúa
không chỉ tác động một cách
tiêu cực, trong việc loại trừ tội
lỗi, mà còn tái tạo nhân loại
tội lỗi bằng Thần Linh ban sự sống
của Ngài nữa, ở chỗ, Ngài đặt
nơi con người một "trái tim" mới
mẻ và tinh tuyền, tức một lương
tâm đổi mới, cũng như Ngài
mở ra cho họ một cơ hội sống
tin tưởng thuần khiết và tôn
thờ đẹp lòng Thiên Chúa.
Giáo
phụ Origen đã nói về việc trị
liệu thần linh, một trị liệu Chúa
thực hiện bằng lời của Ngài
cũng như bằng việc chữa lành
của Ðức Kitô, là "nếu Thiên
Chúa giúp tạo nên những phương
dược từ các loại thảo mộc
được trộn lẫn với nhau một
cách thích hợp để trị liệu
phần xác thế nào, thì Ngài cũng
giúp cho phần hồn có những vị
thuốc bằng lời Ngài thấm nhập
rải rác khắp các cuốn Sách Thánh
thần linh... Thiên Chúa còn một trợ
y liệu khác lấy Chúa là Khuôn
Mẫu, Ðấng phán về mình rằng:
‘Kẻ khỏe mạnh không cần đến
thày thuốc mà là kẻ yếu đau’.
Người là vị y sĩ thượng
hạng có thể chữa trị hết
mọi yếu đuối và bệnh nạn"
(Origen, Homilies on Psalms, trích từ bản Ý
Ngữ, Omelie sui Salmi, Florence, 1991, pp. 247-249).
5. Sự sâu xa phong phú của Thánh Vịnh
50 (51) đáng cho chúng ta phải cẩn
thận dẫn giải từng câu. Nó là
những gì chúng ta sẽ thực hiện
khi chúng ta trở lại với nhau một
lần nữa vào Giờ Kinh Ban Mai của
những Ngày Thứ Sáu tiếp tới.
Nhìn tổng quan bài thánh vịnh này,
một cái nhìn tổng quan chúng ta có
được từ lời khẩn nguyện
nổi tiếng trong Thánh Kinh đây, chúng
ta thấy một số yếu tố nồng
cốt về một thứ linh đạo cần
phải được thấm nhuần vào
đời sống thường nhật của
tín hữu. Trước hết là một
cảm quan thực sự về tội lỗi,
được coi như là một sự chọn
lựa tự do, theo ý nghĩa tiêu cực
ở lãnh vực luân lý và thần
học: "Tôi đã lỗi phạm đến
Chúa, đến chính Chúa, tôi đã
làm nên những điều xấu xa trước
nhan Chúa" (câu 6).
Trong
bài thánh vịnh này còn có một
cảm quan thực sự về khả năng
hoán cải nữa, ở chỗ, tội nhân,
thành tâm hối lỗi, (x câu 5), đến
trước Thiên Chúa trong cảnh khốn
cùng và trần trụi của mình, nài
xin Ngài đừng loại trừ mình khỏi
nhan của Ngài (xâu 13).
Sau
hết, trong bài Miserere, niềm xác tín
sâu xa tin tưởng vào lòng tha thứ
của Thiên Chúa còn "loại bỏ,
rửa sạch, thanh tẩy" tội nhân (xem
các câu 3-4), và có thể biến đổi
họ thành một tạo vật mới, thành
phần được biến đổi về
tinh thần, môi miệng và con tim (xem 4-19).
"Cho dù tội lỗi của chúng ta có
đen thui như đêm tối, thì
tình thương Thiên Chúa vẫn lớn
hơn cả cảnh khốn cùng của chúng
ta nữa. Chỉ cần một điều duy
nhất là, tội nhân phải để
hé cửa tiến vào lòng họ... Thiên
Chúa có thể làm tất cả những
gì còn lại... Mọi sự được
bắt đầu và kết thúc ở lòng
xót thương của Ngài", Thánh Faustina
Kowalska đã viết như thế (M. Winowska,
The Ikon of Divine Mercy, The Message of Sister Faustina, trích
từ ấn bản Ý Ngữ, L’Icona dell’ Amore
Misericordioso. Il messaggio di Suor Faustina, Rome, 1981, p.
271).
(L’Osservatore Romano, ấn bản Anh ngữ,
ngày 24/10/2001)
|
|