|
|
Thế
giới hãy chúc tụng vị Thiên Chúa tín trung
(Thánh
Vịnh 99 [100], Kinh Ban Mai, Ngày Thứ Sáu, Tuần
Thứ Nhất)
1.
Truyền thống Do Thái gọi bài thánh thi chúc
tụng chúng ta vừa nghe là “Thánh Vịnh để
todáh”, tức là lời tạ ơn bằng
phụng ca. Đó là lý do tại sao bài Thánh Vịnh
này xứng đáng được nguyện vào
Giờ Kinh Ban Mai. Chúng ta có thể nhận ra ba
yếu tố đáng kể trong bốn câu của
bài thánh thi hoan lạc này, những yếu tố
làm cho cộng đồng Kitô hữu khi sử
dụng để nguyện cầu được
lợi ích thiêng liêng.
2.
Trước hết là lời mời gọi
thiết tha trong việc cầu nguyện, một
lời mời gọi được rõ ràng thể
hiện nơi khía cạnh phụng vụ. Điều
này chứng tỏ ở những động từ
truyền khiến, kèm theo những chi tiết
liên quan đến phụng vụ được
nhắc đến trong bài Thánh Vịnh: “Hãy kêu
lên..., hãy hân hoan phụng sự Chúa, hãy hân hoan xướng
hát trước nhan Ngài. Hãy biết rằng Chúa
là Thiên Chúa... Hãy cảm tạ tri ân tiến qua
cổng của Ngài, hãy ca khen tiến vào cung điện
của Ngài, hãy tạ ơn Ngài và hãy chúc tụng
danh Ngài”. Đó là một loạt những
lời mời gọi trong việc chẳng những
tiến vào chốn thánh của đền thờ
qua cổng và cung điện (x Ps 14:1; 23: 3, 7-10),
mà còn mời gọi hoan hỉ chúc tụng Thiên
Chúa nữa.
Đó
như là một cái trục liên lỉ không gián
đoạn trong việc chúc tụng bằng hình
thức liên lỉ tuyên xưng niềm tin và lòng
yêu thương. Việc chúc tụng từ trái
đất dâng lên Thiên Chúa cũng là những gì
nuôi dưỡng tâm linh của người tín
hữu.
3.
Tôi
muốn nhấn mạnh đến chi tiết
thứ hai ở ngay đầu của bài thánh
thi, chỗ Tác Giả Thánh Vịnh kêu gọi toàn
thể trái đất hãy tung hô Chúa (x câu 1). Bài
Thánh Vịnh chắc chắn là chú trọng tới
thành phần dân Chúa chọn, thế nhưng, vấn
đề chúc tụng là một vấn đề
phổ quát, như vẫn thấy nơi Thánh Vịnh
có các “lời thánh thi ngỏ cùng Vị Chúa quốc
vương” (x Ps 95-98 [96-99]). Thế giới và
lịch sử không rơi vào tay của tình trạng
may rủi, của xao động hay của tất
yếu mù quáng. Trái lại, chúng được
quản trị bởi một Vị Thiên Chúa nhiệm
mầu, Đấng muốn nhân loại sống
an toàn trong những mối liên đới chân chính
đích thực. Ngài “là Vua. Thế giới được
thiết dựng, nó sẽ không bao giờ bị
xê xích; Ngài sẽ công bằng phân xử các dân nước...
Ngài sẽ phân xử thế giới bằng đức
công minh và các dân tộc bằng chân lý của Ngài”
(Ps 95:10-13).
4. Chúng
ta ở trong tay Thiên Chúa, Đấng là Chúa và là
Vua, là Cha và là Hóa Công, và chúng ta vui mừng tin tưởng
rằng Ngài sẽ không buông chúng ta ra khỏi tay
của Ngài. Hiểu như thế chúng ta mới
có thể cảm nhận được hơn
nữa yếu tố chính yếu, yếu tố
thứ ba của bài Thánh Vịnh. Thật vậy,
ở trọng tâm của lời chúc tụng mà
Tác Giả Thánh Vịnh đặt vào môi miệng
chúng ta là một lời tuyên xưng đức
tin, được bầy tỏ bằng một
chuỗi những phẩm tính nói lên thực tại
sâu xa của Thiên Chúa. Lời tuyên xưng chính yếu
ấy gồm có những xác tín như sau: “Chúa
là Thiên Chúa, là Đấng tạo dựng nên chúng
ta, thành phần thuộc về Ngài... Chúa thật
là nhân hậu, tình Ngài yêu thương bền vững
muôn đời, Ngài tín trung qua mọi thế hệ”
(x các câu 3-5).
5.
Trước tiên là một lời tuyên xưng lại
niềm tin vào một Thiên Chúa duy nhất, như
giới răn thứ nhất của Thập
Giới đòi hỏi: “Ta là Chúa, Thiên Chúa của
các ngươi... Các ngươi sẽ không có chúa
nào khác ngoài Ta” (Ex 20: 2.3). Lời tuyên xưng này
vẫn thường được lập lại
trong Thánh Kinh: “Vậy hôm nay anh em hãy nhận biết
và giữ kỹ trong lòng anh em điều này: Chúa
là Thiên Chúa trên các tầng trời cao, dưới
mặt đất này chứ không có Đấng
nào khác” (Dt 4:39). Sau
đó tới lời tuyên xưng niềm tin vào
Thiên Chúa hóa công, Đấng là nguồn gốc
của hữu thể và sự sống. Thế
rồi, bằng một “công thức giao ước”,
niềm tin của Yến Duyên là dân Thiên Chúa tuyển
chọn đã xác nhận: “Chúng tôi thuộc về
Ngài, là dân của Ngài và là chiên Ngài chăn dắt”
(câu 3). Đó cũng là niềm xác tín được
tín hữu thuộc Dân Chúa mới lấy làm của
mình, với ý thức là mình là đàn chiên do Vị
Mục Tử tối cao của các linh hồn
dẫn dắt đến đồng cỏ trường
sinh thiên đường (x 1Pt 2:25).
6.
Sau
khi tuyên xưng Vị Thiên Chúa duy nhất là Đấng
Tạo Hóa và là nguồn mạch của giao ước,
hình ảnh về Vị Chúa này được
bài Thánh Vịnh của chúng ta tiếp tục ca
khen qua việc suy niệm về ba phẩm tính
thần linh vẫn thường vang lên trong Sách
Thánh Vịnh, đó là lòng lành của Thiên Chúa, tình
yêu nhân hậu (hésed) của Ngài và lòng trung
tín của Ngài. Chúng là ba nhân đức thuộc
về giao ước Thiên Chúa thiết lập
với dân của Ngài; chúng nói lên cho thấy mối
liên hệ không bao giờ bị đổ vỡ
qua các thế hệ, bất chấp giòng suối
bùn lầy tội lỗi, bất chấp nổi
loạn và bất trung của con người.
Với niềm tin tưởng thành tín này nơi
tình yêu thần linh không bao giờ suy giảm ấy,
dân Chúa đã hành trình qua giòng lịch sử trước
những thử thách cám dỗ và yếu đuối
mỗi ngày.
Niềm
tin tưởng này trở thành một bài thánh thi
mà đôi khi không nói lên lời, như Thánh Âu-Quốc-Tinh
nhận định: “Đức ái càng gia tăng
thì anh em càng thấy anh em trở nên những gì
anh em nói và không nói được. Thật vậy,
trước khi cảm nhận được
những điều gì đó, anh em nghĩ rằng
anh em có thể dùng lời lẽ để nói
về Thiên Chúa; đến khi anh em hưởng
được cái thú vị của chúng, anh em
mới nhận ra rằng anh em không thể diễn
tả cho trọn vẹn những gì anh em được
nếm hưởng. Nếu anh em nhận thấy
rằng anh em không biết làm sao để diễn
đạt những gì anh em nếm hưởng
thì phải chăng vì thế anh em câm lặng không
chúc tụng nữa?... Chắc chắn là không.
Anh em không thể nào lại vô ơn bội nghĩa
đến như vậy. Đối với Đấng
phải được tôn vinh, kính trọng và
hết lòng ca ngợi... Anh em hãy lắng nghe bài
Thánh Vịnh: ‘Toàn thể trái đất hãy hoan
hỉ kêu lên Chúa’. Nếu anh em biết hỉ hoan
trước nhan Chúa thì bấy giờ anh em mới
hiểu được niềm vui của toàn
thể trái đất” (Trích từ the Exposition
on the Psalms, Italian version, Esposizioni sui Salmi
III/1, Rome 1993, p. 459).
(L’Osservatore Romano, ấn bản Anh ngữ, ngày
14/11/2001)
|
|