|
|
Tất cả mọi dân nước chúc tụng
tình yêu thủy chung của Thiên Chúa
(Thánh
Vịnh 116 [117], Kinh Ban Mai, Ngày Thứ Bảy,
Tuần Thứ Nhất)
1.
Đây là một trong những bài thánh vịnh ngắn
nhất. Trong tiếng Do Thái, bài thánh vịnh này
chỉ có 17 chữ, trong đó có 9 chữ quan trọng.
Bài thánh vịnh này là một tụng khúc ngắn,
tức là một bài thánh thi chúc tụng thiết
yếu đóng vai trò lý tưởng trong việc
kết thúc các bài thánh vịnh dài. Điều này
đôi khi cũng được thấy nơi
phụng vụ, như hiện nay với tụng
khúc Sáng danh Đức Chúa Cha, một tụng khúc
chúng ta dùng để kết thúc khi đọc
đến cuối hết mỗi bài thánh vịnh.
Thật
vậy, số chữ ít ỏi trong lời cầu
nguyện này có một ý nghĩa sâu xa trong việc
tung hô giao ước Chúa đã thiết lập
với dân của Ngài theo quan điểm phổ
quát. Bởi thế, Thánh Tông Đồ Phaolô đã
dùng câu đầu tiên trong bài thánh vịnh này để
mời gọi các dân nước trên thế giới
hãy tôn vinh Thiên Chúa. Đúng thế, ngài đã viết
cho Kitô hữu giáo đoàn Rôma là Các Dân Ngoại
có thể thực hiện tôn vinh Thiên Chúa vì tình
thương của Ngài như lời đã viết:
“Hỡi tất cả mọi quốc gia, hãy chúc
tụng Chúa; hỡi tất cả mọi dân tộc
anh em, hãy tôn vinh Ngài” (15:9,11).
2.
Như vẫn thường xẩy ra cho
loại bài thánh vịnh này, một bài thánh vịnh
ngắn ngủi chúng ta đang suy niệm đây,
bài thánh vịnh vang lên lời mời gọi chúc
tụng không phải chỉ nhắm đến
dân Yến Duyên thôi, mà còn đến tất cả
mọi dân nước trên trái đất này nữa.
Tụng khúc Alleluia phải được
bộc lên từ cõi lòng của tất cả những
kẻ lành thành tâm tìm kiếm và kính mến Thiên
Chúa. Sách Thánh Vịnh, một lần nữa, lại
phản ảnh cho thấy một viễn ảnh
rất bao quát, một viễn ảnh được
nuôi dưỡng từ kinh nghiệm của dân
Yến Duyên trong cuộc lưu đầy ở
Babylon vào thế kỷ thứ sáu trước
Chúa Kitô giáng sinh. Vào thời dân Do Thái giao chạm
với các dân nước và văn hóa khác và cảm
thấy nhu cầu cần loan báo niềm tin của
mình cho những ai sống quanh mình. Sách Thánh Vịnh
phác tả một quan niệm cho thấy sự
thiện được nẩy nở ở nhiều
nơi chốn và nó có thể qui hướng về
một Vị Chúa và là Tạo Hóa duy nhất.
Như
thế, chúng ta có thể nói đến một
lời cầu nguyện “đại kết” mà
giờ đây ôm ấp các dân nước khác nhau
về nguồn gốc, lịch sử và văn
hóa. Chúng ta có cùng một “viễn ảnh” lớn
lao như tiên tri Isaia, vị cho thấy rằng
“vào ngày cùng tháng tận”, tất cả mọi
dân nước sẽ kéo nhau tiến về “ngọn
núi của nhà Chúa”. Bấy giờ họ sẽ
buông gươm giáo xuống; họ sẽ biến
gươm kiếm thành lưỡi cầy, biến
thương đao thành liềm hái, nhờ đó
nhân loại có thể sống trong an vui thái hòa,
hát lên bài ca chúc tụng Vị Chúa duy nhất của
tất cả mọi người, lắng nghe
lời Ngài và tuân giữ lề luật của
Ngài (x Is 2:1,5).
3. Yến Duyên, thành
phần Dân Được Tuyển Chọn, đã
mang một sứ mệnh truyền giáo cần
phải hoàn thành ở chân trời đại đồng
này. Họ phải loan báo hai phẩm tính thần
linh cao cả họ đã cảm nghiệm thấy
khi sống giao ước với Chúa (x câu 2). Hai
phẩm tính thần linh này, hai phẩm tính làm nên
những nét chính yếu nơi dung nhan Thiên Chúa,
nét “nhị thức thiện hảo” của Thiên
Chúa, như Thánh Gregory Nyssa đề cập đến
(x On the Titles of the Psalms, nguyên bản tiếng
Ý là Sui titoli dei Salmi, Rome, 1994, p. 183), được
diễn đạt bằng những từ ngữ
Do Thái, những từ ngữ khi chuyển dịch
không chuyển chở trọn vẹn ý nghĩa
sâu xa của chúng.
Chữ thứ nhất là hésed,
một từ ngữ được Sách Thánh Vịnh
lập đi lập lại, một từ ngữ
Tôi cũng đã giải thích trước đây.
Nó cho thấy sự phong phú nơi cảm tình sâu
xa diễn tiến giữa hai ngôi vị, được
gắn bó với nhau bằng một liên kết
đích thực và vững chắc. Nó chất chứa
những giá trị như yêu thương, thủy
chung, thương cảm, lành thánh và dịu dàng.
Giữa Thiên Chúa và chúng ta cũng có một mối
liên hệ, không lạnh lùng như trường
hợp giữa một vị hoàng đế và
hạ thần của ông, mà là sinh động
như giữa hai người bạn, giữa
hai vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái.
4. Chữ thứ hai
là eméth cũng là chữ đồng nghĩa
với từ ngữ thứ nhất. Nó là chữ
được ưa chuộng nơi Sách Thánh
Vịnh, một cuốn sách dùng chữ này hơn
nửa số lần trong cả Cựu Ước.
Chính chữ này nói lên cho thấy
một “sự thật”, tức là nói lên cho thấy
cái đích thực của một mối liên hệ,
cái chuyên chính và thành tín của nó, bất chấp
những trở ngại và thử thách; nó là sự
thủy chung tinh tuyền hoan lạc không hề
biết đến bội vong. Không phải là
ngẫu nhiên vị tác giả Thánh Vịnh đã
tuyên bố rằng nó “muốn đời trung
tín” (câu 2). Tình yêu thủy chung của Thiên Chúa không
bao giờ ngừng và sẽ không bỏ mặc
chúng ta cho lẻ loi cô độc, cho tăm tối
mung lung, cho một số mệnh mù quáng, cho không
không hay cho tử thần.
Thiên Chúa yêu thương chúng ta bằng
một tình yêu nhưng không, liên lỉ và bất
tận. Đó là sứ điệp của bài Thánh
Vịnh của chúng ta hôm nay đây, một bài
thánh vịnh ngắn ngủi như hơi thở
nguyện cầu bộc phát từ tâm can song lại
vang vọng như cả một bài ca vĩ đại.
5. Những lời lẽ
bài thánh vịnh này bộc phát như âm dội
của bài ca vang lên trên Giêrusalem thiên đình, nơi
mà cả một đoàn lũ đông đảo
mọi ngôn ngữ, dân tộc và quốc gia chúc
tụng vinh hiển thần linh trước ngai
tòa của Thiên Chúa và của Con Chiên (x Apoc 7:9).
Giáo Hội lữ hành hòa điệu với bài
ca diễn tả khôn cùng lời chúc tụng này,
những diễn tả thường được
kèm theo bằng tài nghệ thi phú và nghệ thuật
âm nhạc. Chúng ta có thể kể đến chẳng
hạn như kinh Te Deum, một kinh được
các thế hệ Kitô hữu sử dụng qua
các thế kỷ để chúc tụng và tạ
ơn. “Chúng tôi chúc tụng Ngài, Ôi Thiên Chúa, chúng
tôi tuyên xưng Ngài, Ôi Thiên Chúa, toàn thể trái đất
kính tôn Ngài là Cha hằng hữu”. Về phần
mình, bài thánh vịnh chúng ta đang suy niệm hôm
nay đây là một tổng hợp của một
phụng vụ chúc tụng kéo dài Giáo Hội dâng
lên trên trần thế, khi liên kết mình với
lời chúc tụng tuyệt hảo của chính
Chúa Kitô đã ngỏ cùng Cha của Người.
Chúng ta hãy chúc tụng Chúa! Chúng ta
hãy không ngừng chúc tụng Ngài. Thế nhưng
chúng ta phải diễn tả lời chúc tụng
của mình bằng đời sống hơn là
bằng ngôn từ. Như tất cả mọi
bài thánh vịnh chúc tụng Chúa, Giáo Hội, thành
phần Dân của Thiên Chúa, nổ lực muốn
mình trở nên một bài thánh thi chúc tụng, song
chúng ta sẽ khó đạt thành, nếu chúng ta
kêu gọi các dân nước dùng bài thánh vịnh
của chúng ta đây để tôn vinh Chúa mà chúng
ta lại không coi trọng lời Chúa cảnh giác:
“Vậy ánh sáng của các con phải chiếu tỏa
trước người ta để họ thấy
được các việc lành các con làm mà tôn vinh
Cha các con ở trên trời” (Mt 5:16).
(L’Osservatore Romano, ấn bản Anh ngữ, ngày
5/12/2001)
|
|