|
|
“Tảng
đá bị loại... đã trở nên tảng đá nền"
(Thánh
Vịnh 117 [118], Kinh Ban Mai, Chúa Nhật, Tuần
Thứ Hai)
1. Khi
người Kitô hữu, hợp tiếng nguyện
cầu với dân Yến Duyên hát bài Thánh Vịnh
117 (118) chúng ta vừa nghe, họ cảm thấy
nơi mình một cái gì đó lâng lâng. Thật vậy,
họ thấy nơi bài thánh thi phụng vụ
này hai câu như vang âm cái ý nghĩa mới nơi
Tân Ước. Thứ nhất là câu 22: “Tảng
đá bị những tay thợ xây loại bỏ
đã trở nên tảng đá nền”. Câu này được
Chúa Giêsu trích lại để ám chỉ về
công cuộc tử nạn và phục sinh của
Người, sau khi nói về dụ ngôn những
viên thợ làm vườn nho sát nhân (x Mt 21:42).
Câu này cũng được Thánh Phêrô nhắc
lại ở Sách Tông Vụ: “Đức Giêsu này
là tảng đá, một tảng đá bị những
tay thợ xây loại bỏ, đã trở nên tảng
đá nền. Ơn cứu độ không ở
trong tay ai khác, và không có một tên tuổi nào ở
dưới bầu trời này khiến chúng ta
được ơn cứu độ” (Acts 4:11-12)
Thánh Cyrilô Giêrusalem nhận định: “Chúng ta
cho rằng chỉ có một Chúa Giêsu Kitô vì chỉ
có một thân phận làm con; chúng tôi nói là chỉ
có một để anh em đừng nghĩ rằng
còn có một vị khác… Thật vậy, Người
đã được gọi là tảng đá,
không phải là một tảng đá vô hồn,
cũng không phải là tảng đá do bàn tay loài
người đục khoét mà có, song là một
tảng đá nền, vì ai tin vào Người
sẽ không bị lỡ làng” (Giáo Lý, nhan đề
Anh ngữ của bản tiếng Ý về những
bài giáo lý của Thánh Cyrilô, Le Catechesi, Rôma,
1993, tr. 312-313).
Câu
thứ hai được Tân Ước trích dẫn
từ bài Thánh Vịnh 117 (118) này là câu đám đông
dân chúng hô lên trước việc Chúa Kitô long trọng
tiến vào thành Giêrusalem như một Đấng
Thiên Sai: “Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà
đến!” (Mt 21:9; Ps 117:26). Lời hoan hô này được
gói ghém ở chữ Hosanna, một chữ
được phát xuất từ lời kêu cầu
hoshiac na' “xin cứu độ chúng tôi!” của
người Do Thái.
2. Bài
thánh thi Thánh Kinh sáng ngời này được
đặt ở ngay tâm điểm của một
tổng hợp của một ít bài thánh vịnh,
từ thánh vịnh 112 (113) đến 117 (118),
những bài thánh vịnh mang tên là Hallel Vượt
Qua, tức là những bài thánh vịnh chúc tụng
được dùng cho việc tôn thờ của
người Do Thái đối với Lễ Vượt
Qua cũng như đối với những lễ
trọng chính trong năm phụng vụ. Lễ
nghi của đoàn rước có thể lấy
bài Thánh Vịnh 117 (118) này làm chủ đề,
bài thánh vịnh được đơn ca viên
hay ca đoàn hát lập đi lập lại, với
Thành Thánh và Đền Thờ như bối cảnh
của nó. Lời mở đầu và kết thúc
bài thánh vịnh: “Hãy chúc tụng Chúa vì Ngài thiện
hảo, vì lòng Ngài xót thương đến muôn
đời” thật là tuyệt vời.
Chữ
“xót thương” được chuyển dịch
từ chữ hesed của tiếng Do Thái,
một chữ nói đến lòng thủy chung hải
hà của Thiên Chúa tỏ ra đối với đám
dân được Ngài thiết lập giao ước
và là đám dân thân tình với Ngài. Có ba hạng
người cần phải chúc tụng tấm
lòng thủy chung này, đó là tất cả dân Yến
Duyên, là “nhà Aaron” hay hàng tư tế, và là “những
ai kính sợ Chúa”, một cách nói bao gồm thành
phần tín hữu cũng như thành phần trở
lại, tức là phần tử của các dân
nước khác muốn tuân giữ lề luật
của Chúa (x các câu 2-4).
3. Đoàn rước đi
qua những đường phố Giêrusalem, vì
bài thánh vịnh nói về “những túp lều của
kẻ công chính” (xem câu 15). Ngoài ra, bài thánh thi cũng
có cả lời tri ân cảm tạ nữa (xem
các câu 5-18), với ý nghĩa là: dù có bị sầu
thương, chúng ta cũng phải giơ cao ngọn
đuốc tin tưởng cậy trông lên, vì bàn
tay uy quyền của Chúa dẫn dắt đám
dân trung thành của Ngài đến chỗ chiến
thắng sự dữ và đến với ơn
cứu độ.
Nhà thơ sách thánh này đã sử
dụng những hình ảnh sắc nét và sống
động; vị tác giả này đã so sánh những
kẻ đối thù dã tâm với đàn ong hay
với một cột lửa sẽ tiến đến
chỗ tất cả mọi sự rồi biến
thành đống tro tàn (xem câu 12). Được
Chúa đỡ nâng, người công chính đã tỏ
ra những phản ứng cứng rắn. Họ
lập lại ba lần rằng “vì danh Chúa tôi
trừ diệt chúng”, câu nói chất chứa một
động từ của tiếng Do Thái ám chỉ
đến việc nhúng tay vào hủy diệt sự
dữ (xem các câu 10, 11, 12). Thật vậy, ở
đằng sau tất cả những sự này
phải có bàn tay quyền uy của Thiên Chúa, tức
là có sự can thiệp hiệu nghiệm của
Ngài, chứ hoàn toàn không phải là có bàn tay yếu
đuối và vụng về của con người
ta nhúng vào. Vì lý do này, niềm vui chiến thắng
sự dữ mới đưa tới việc
tuyên xưng đức tin một cách sống động
như thế này: “Chúa là sức mạnh của
tôi và là hoan ca của tôi, Ngài đã trở nên cho
tôi phần rỗi” (câu 14).
4. Thế rồi đoàn
rước về tới đền thờ, ở
tại “cửa công chính” (câu 19), tại ngưỡng
Cửa Thánh của Sion. Đến đây bài ca
tri ân cảm tạ thứ hai vang lên, một bài
ca bắt đầu bằng cuộc trao đổi
giữa cộng đoàn và các vị tư tế
tham dự việc tôn thờ. Đơn ca viên
xướng thay cho đoàn rước là: “Hãy mở
cho tôi các cửa công chính: Tôi sẽ tiến vào
để tạ ơn Chúa. Đây là cửa của
Chúa, người chính trực sẽ qua đó tiến
vào” (câu 20), rồi những người khác, có
thể là các vị tư tế, nghe thế đáp
lại. Khi tiến vào rồi, họ bắt đầu
hát bài thánh thi tạ ơn Chúa, Đấng đích
thân ở trong Đền Thờ như là một
“tảng đá nền” an toàn vững chắc để
xây lên ngôi nhà sự sống (x Mt. 7:24-25). Tín hữu
đến đền thờ để bày tỏ
đức tin của mình, dâng lời nguyện
cầu và cử hành phụng vụ đều
được lãnh nhận phép lành của vị
tư tế ban cho.
5. Cảnh trí
cuối cùng mở ra trước mắt chúng ta
là một lễ nghi hân hoan với những vũ
điệu thánh hảo, những vũ điệu
được kèm theo bằng việc hớn
hở vẫy vẫy những cành lá: “Đoàn rước
mừng lễ hãy cầm cành lá tiến lên cho đến
các góc cạnh bàn thờ” (câu 27). Cuộc cử
hành phụng vụ này là một cử hành hân hoan,
mừng rỡ, là một diễn đạt của
đời sống chúc tụng Chúa. Lễ nghi
của các cành là lễ nghi nhắc lại Lễ
Lều Tạm của dân Do Thái, một lễ
được cử hành để tưởng
nhớ cuộc hành trình của dân Yến Duyên
đi qua sa mạc, một cử hành trọng
thể với cuộc rước cầm những
cành lá cây dừa, lá cây sim và lá cây dương liễu.
Kitô hữu đã lấy lễ nghi
được bài Thánh Vịnh gợi lên này cho
việc Chúa Giêsu tiến vào thành Giêrusalem, một
biến cố được cử hành trong phụng
vụ Chúa Nhật Lễ Lá. Chúa Kitô được
đám đông dân chúng xưng tụng là “Con Vua
Đavít” (x Mt 21:9), đám dân chúng “khi đến
mừng lễ... cầm những cành lá dừa
và đi nghênh đón Ngài mà hô lên: Hoan hô! Chúc tụng
Đấng nhân danh Chúa mà đến, vua dân Yến
Duyên” (Jn 12:12-13). Tuy nhiên, trong việc cử hành
mừng lễ này đã trổi lên một dạo
khúc mở đầu cho giờ khắc Thương
Khó và Tử Nạn của Chúa Giêsu, vị tiêu
biểu cho tảng đá nền, một dạo
khúc mang đầy những ý nghĩa, một ý
nghĩa Phục Sinh vinh hiển.
Bài Thánh Vịnh 117 (118) phấn khích Kitô hữu
nhận thức thấy “ngày Chúa đã lập
nên” nơi biến cố Phục Sinh của Chúa
Giêsu, một ngày mà “tảng đá bị những
tay thợ xây loại bỏ đã trở nên tảng
đá nền”. Họ có thể dùng bài thánh vịnh
này để hát lên lòng tri ân cảm tạ sâu xa
của mình: “Chúa là sức mạnh của tôi và
là hoan ca của tôi, Ngài đã trở nên cho tôi phần
rỗi” (câu 14); “Đây là ngày Chúa đã lập
nên, chúng ta hãy hân hoan mừng rỡ trong ngày đó”
(câu 24).
(L’Osservatore Romano, ấn bản Anh ngữ, ngày
12/12/2001)
|
|