|
|
Chúa
long trọng công bố lời của Ngài
1.
Có một số nhà chuyên gia coi Thánh
Vịnh 28 chúng ta vừa mới nghe như
là một trong những đoạn văn cổ
nhất của Sách Thánh Vịnh. Có
một hình ảnh mãnh liệt liên kết
Thánh Vịnh này với việc biểu
lộ bằng thi ca và nguyện cầu của
mình: ở chỗ chúng ta đối diện
với một cơn bão tố càng ngày
càng hoành hành. Chữ qol trong tiếng
Do Thái có ý nghĩa cả về "tiếng
nói" lẫn "sấm xét", được
lập lại ở đầu những câu
chính, tạo nên một cảnh căng
thẳng dồn dập nơi bài Thánh Vịnh.
Vì lý do này những nhà chú giải
đã gọi bài Thánh Vịnh của
chúng ta đây là "bài Thánh Vịnh
thất sấm trận", tính theo số lần
vang vọng chữ sấm xét này. Thật
vậy, người ta có thể nói rằng
tác giả Thánh Vịnh đã nghĩ
đến sấm xét như là một biểu
hiệu của tiếng nói thần linh, nơi
mầu nhiệm siêu việt và bất khả
thấu của tiếng nói này, một
tiếng nói vang vào thực tại tạo
vật để làm cho nó bàng hoàng
và kinh hãi, nhưng cũng là một
tiếng nói, theo ý nghĩa sâu xa nhất
của mình, lại là một tiếng nói
bình an và thái hòa. Người ta nghĩ
đến đoạn 12 của Phúc Âm
Thứ Bốn là đoạn đề cập
đến tiếng nói từ trời đáp
lời Chúa Giêsu được dân chúng
cho như là tiếng sấm (x Jn 12:28-29).
Trong
việc sử dụng Thánh Vịnh 28 làm
Kinh Ban Mai, Phụng Vụ Giờ Kinh muốn mời
gọi chúng ta hãy mặc lấy thái
độ tôn thờ Uy Nghi thần linh cách
sâu thẳm và tin tưởng.
2. Vị
xướng hát Thánh Kinh đã dẫn
đưa chúng ta đến hai giây phút
và hai địa điểm. Ở giữa
(các câu 3-9) hai giây phút và hai địa
điểm này, chúng ta thấy có đoạn
về trận bão tố nổi lên từ
"các giòng nước mênh mông" của
Ðịa Trung Hải. Trước mắt của
con người Thánh Kinh này thì các
giòng nước biển cả ấy trở
thành những xao động tấn công
vẻ đẹp và huy hoàng của thiên
nhiên tạo vật, làm soi mòn, tàn
phá và hủy hoại nó. Bởi thế,
khi quan sát bão tố nổi lên, nguòi
ta mới thấy được quyền năng
vô biên của Thiên Chúa. Con người
cầu nguyện thấy cơn bão tố tiến
lên hướng bắc và tàn phá
đất liền. Những cây trắc bá
Libanon và Núi Sirion, đôi khi cũng được
gọi là Núi Hermon, bị xét đánh
và như thể bật lên như những
con thú hoảng sợ dưới những
trận sấm xét. Những vang động
càng gần hơn, băng ngang qua toàn cõi
Thánh Ðịa, rồi chuyển xuống
phía nam, đến những miền đất
hoang vu xứ Kades.
3. Sau
bức tranh chuyển động và căng
thẳng mãnh liệt này, chúng ta được
mời gọi chiêm ngưỡng một cảnh
khác trái ngược lại, một cảnh
được phác tả ở đầu
và ở cuối bài Thánh Vịnh (các
câu 1-2 và 9b-11). Cơn buồn thảm và
nỗi sợ hãi giờ đây được
đối lại bằng việc tôn vinh thờ
lạy Thiên Chúa trong đền thờ
ở Sion.
Hầu
như có một luồng truyền thông
liên kết cung thánh Giêrusalem với
cung thánh thiên đình, ở chỗ,
cả hai nơi thánh này đều có
an bình và lời ngợi ca chúc tụng
vinh quang thần linh. Tiếng sấm xét điếc
tai nhường chỗ cho cảnh an hòa của
tiếng hát phụng vụ, nỗi kinh hoàng
nhường chỗ cho nỗi vững tâm
tin tưởng nơi sự bảo vệ thần
linh. Bấy giờ Thiên Chúa mới xuất
hiện "ngự trên lụt lội" như
"Ðức Vua muôn thuở" (câu 10), tức
như Vị Chúa Tể và là Ðấng
Thống Trị của tất cả mọi tạo
vật.
4. Trước
hai cảnh tượng đối nghịch nhau
này, con người cầu nguyện được
mời gọi chia sẻ một cảm nghiệm
lưỡng diện. Trước hết, họ
phải nhận ra mầu nhiệm Thiên Chúa,
một mầu nhiệm được diễn
tả nơi biểu hiệu bão tố, một
mầu nhiệm con người không thể
thấu triệt hay làm chủ. Như Tiên
Tri Isaia lên tiếng hát, Chúa như luồng
xét đánh, hay như cơn bão tố
nổi lên trong lịch sử loài người,
gieo hoảng hốt cho kẻ hư hoại cũng
như cho thành phần đàn áp. Một
khi Ngài phán quyết thì những đối
phương kiêu hãnh của Ngài sẽ
bật gốc lên như cây cối bị
bão táp đánh đổ, hay như các
cây trắc bá trở nên xác sơ
trước cơn thịnh nộ thần linh
(x Is 14:7-8).
Những
gì đã được thấy rõ ràng
nơi ý nghĩa này cũng là những
gì đã được nhà tư tưởng
tân thời (Rudolph Otto) diễn tả như
là tremendum của Thiên Chúa, tức là
siêu việt tính khôn lường và
sự hiện diện của Ngài như một
quan án công minh trong lịch sử loài
người. Lịch sử loài người
đừng hòng việc chống lại được
quyền năng tối thượng của Ngài.
Trong ca vịnh Ngợi Khen, Mẹ Maria cũng
đã tôn tụng khía cạnh tác
hành này của Thiên Chúa: "Ngài
đã ra tay uy quyền, đánh tan người
kiêu ngạo với ý nghĩ kiêu
căng của họ; Ngài đã hạ
người quyền hành xuống khỏi
ngai tòa của họ" (Lk 1:51-52a).
5.
Tuy nhiên, bài Thánh Vịnh cũng cho chúng
ta thấy một khía cạnh khác của
dung nhan Thiên Chúa, khía cạnh được
khám phá ra nơi niềm thân mật
nguyện cầu cũng như nơi việc
cử hành phụng vụ. Theo nhà tư
tưởng trên đây, đó là
khía cạnh fascinosum của Thiên Chúa,
tức khía cạnh say mê phát tỏa
ra từ ân sủng của Ngài, một
mầu nhiệm yêu thương được
tuôn đổ xuống trên người
trung hiếu, một niềm phúc lộc tin
tưởng an tâm giành cho kẻ công
chính. Dù có phải đối diện
với những biến động của sự
dữ, với những cơn bão tố của
lịch sử, cũng như với chính cơn
thịnh nộ của đức công minh thần
linh, con người cầu nguyện vẫn cảm
thấy bình an, vẫn được bao che
trong chiếc áo choàng bảo vệ do Ðấng
Quan Phòng ban cho những ai chúc tụng Thiên
Chúa và đi theo đường lối
của Ngài. Qua việc cầu nguyện, chúng
ta biết rằng điều Thiên Chúa
thực sự ước muốn đó là
ban bình an cho chúng ta. Nơi đền thánh,
nỗi lo âu của chúng ta được
xoa dịu và nỗi kinh hoàng của chúng
ta bị loại trừ; chúng ta tham dự
vào phụng vụ thiên quốc cùng
với tất cả "con cái Thiên Chúa",
các thiên thần và các thánh nhân.
Thế rồi, sau cơn bão tố, hình
ảnh hủy hoại như một trận lụt
cả thể gây nên do loài người
gian manh, giờ đây lại xuất hiện
trên bầu trời một cầu vồng
của ân sủng thần linh, một nhắc
nhở về "giao ước vĩnh viễn giữa
Thiên Chúa và hết mọi sinh vật
có xác thịt trên mặt đất"
(Gn 9:16).
Sứ
điệp này nổi bật trước
hết nơi việc "Kitô " hữu đọc
lại bài Thánh Vịnh. Nếu thất
"sấm" trận nơi bài Thánh Vịnh
của chúng ta biểu hiệu cho tiếng
của Thiên Chúa trong vũ trụ này,
thì việc thể hiện cao đẹp nhất
của tiếng này là tiếng Chúa Cha
tỏ căn tính sâu xa nhất của "Người
Con yêu dấu" (Mk 1:11) ra, qua cuộc thần
hiển của Chúa Giêsu khi Người
lãnh nhận Phép Rửa. Thánh Basiliô
viết: "Có lẽ, còn nhiệm mầu
hơn nữa, tiếng của Chúa vang trên
các giòng nước được dội
lại khi có tiếng từ trên cao phán
xuống lúc Chúa Giêsu lãnh nhận
phép rửa rằng: Ðây là Con Cha
yêu dấu. Thật vậy, bấy giờ
Chúa thở hơi trên các giòng nước,
thánh hóa chúng bằng phép rửa.
Vị Thiên Chúa vinh quang làm sấm động
từ trên cao tiếng chứng từ mãnh
liệt của Ngài... Bấy giờ anh em mới
có thể nhờ tiếng ‘sấm động’
hiểu rằng việc biến đổi xẩy
ra sau Phép Rửa qua tiếng mãnh liệt
của Phúc Aâm" (Bài giảng về Các
Thánh Vịnh: PG 30, 359).
(L’Osservatore
Romano, ấn bản Anh ngữ, ngày 20/6/2001)
|
|