suy tư tháng cầu hồn -góp nhặt

HÃM MÌNH ĐỀN TỘI THAY CHO CÁC ĐẲNG LINH HỒN
Thánh nữ Marguerite-Marie Alacoque (1647-1690) là nữ tu dòng Thăm Viếng ở Paray-le-Monial, nước Pháp. Dòng Các Nữ Tu Thăm Viếng do thánh François de Sales (1567-1622) và thánh nữ Jeanne-Françoise de Chantal (1572-1641) thành lập vào năm 1610.
Thánh nữ Marguerite-Marie được Đức Chúa GIÊSU KITÔ tỏ bày Trái Tim Cực Thánh của Ngài, Trái Tim hằng bừng cháy ngọn lửa dạt dào yêu thương nhân loại. Đức Chúa GIÊSU chọn thánh nữ làm vị tông đồ dấu ái của Trái Tim Cực Thánh Ngài. Ngài muốn thánh nữ loan báo cho toàn thế giới biết ”những kỳ công của tình yêu Ngài”, ”những kín ẩn không thể giải thích được của Trái Tim Cực Thánh Ngài”. Đức Chúa GIÊSU nói với thánh nữ Marguerite-Marie Alacoque:
- Đây là Trái Tim từng nồng nàn yêu thương loài người!
Năm 1685, Cha Francois-Ignace Rolin, Linh Mục dòng Tên và là Cha Linh Hướng, truyền cho thánh nữ Marguerite-Marie viết lại cuộc đời mình. Vâng lời Cha Linh Hướng, thánh nữ viết cuốn ”Tự Thuật”. Trong cuốn này, thánh nữ Marguerite-Marie Alacoque kể lại chuyện một Linh Hồn nơi Lửa Luyện Ngục hiện về xin thánh nữ cầu nguyện hy sinh cho mình chóng thoát khỏi Lửa Luyện Hình.
Một lần kia, nhằm ngày lễ trọng kính Mình Máu Thánh Đức Chúa GIÊSU KITÔ, khi con đang quỳ chầu Thánh Thể, thì bỗng chốc, một người xuất hiện trước mắt con, toàn thân là khối lửa cháy bừng bừng. Sức nóng nơi người này tỏa ra và xuyên thấu vào người con khiến con có cảm giác là mình cũng bị đốt cháy cùng với người đó. Người này cho con thấy là đang ở trong Lửa Luyện Hình và tình trạng thê thảm của người này khiến con cảm thương và khóc ròng.
Tiếp đến, người này cho con biết, ngài là một Linh Mục tu sĩ, thuộc dòng thánh Biển Đức. Cha đã có lần giải tội cho con và ra lệnh cho con được phép rước lễ. Chính vì việc lành này mà THIÊN CHÚA thương ban cho Cha đặc ân ngỏ lời với con, xin con thoa dịu những nỗi khổ ngài đang chịu trong Lửa Luyện Hình. Ngài xin con - trong vòng 3 tháng - bằng lòng nhường lại cho ngài mọi việc lành phước đức và những hy sinh, bằng lòng chịu đau khổ.
Con liền xin phép Mẹ Bề Trên. Sau khi được Mẹ Bề Trên ưng thuận, con hứa với ngài là con bằng lòng làm mọi sự theo như lời ngài xin. Vị Linh Mục liền cho con biết 3 lý do chính khiến ngài phải chịu đau khổ nặng nề.
Thứ nhất, vì ngài tự coi trọng quyền lợi riêng hơn là tìm kiếm Vinh Quang THIÊN CHÚA, bằng cách quá chú tâm đến lời khen tiếng chê giả trá của người đời.
Thứ hai, vì ngài lỗi đức bác ái đối với các anh em cùng dòng.
Thứ ba, vì ngài quá quyến luyến các tạo vật, thương yêu người khác với tình cảm thuần túy tự nhiên và ưa kể chuyện tầm-phào trong các cuộc nói chuyện thiêng liêng. Điều này làm mất lòng Chúa rất nhiều.
Con không thể nào kể ra cho hết, diễn tả cho trọn, mọi nỗi thống khổ con phải chịu trong vòng 3 tháng trời, theo lời con hứa với vị Linh Mục. Bởi vì, vị Linh Mục luôn theo sát con, không rời con giây phút nào. Thêm vào đó, bởi vì toàn thân ngài giống như một khối lửa, nên con phải chịu đau đớn một cách thống thiết và nước mắt cứ liên tục chảy ra ròng ròng.
Thấy tình cảnh của con như thế, Mẹ Bề Trên thật động lòng cảm thương con. Mẹ truyền cho con phải làm những việc hãm mình đền tội lành thánh, nhất là việc tuân giữ kỷ luật: bởi vì, những nỗi đau đớn và thống khổ bề ngoài chị em làm con phải chịu vì đức bác ái, làm nhẹ bớt những nỗi đau khổ khác rất nhiều, và sự thánh thiện về tình thương này ghi dấu trong con, giống như một mẫu hàng nhỏ, về những gì nó làm cho các Linh Hồn phải chịu đau khổ trong Lửa Luyện Ngục.
Sau khi tròn ba tháng, con thấy lại vị Linh Mục nhưng dưới một hình ảnh khác. Dáng điệu đầy tràn hân hoan và vinh quang, ngài ra đi vui hưởng niềm hạnh phúc vĩnh cửu. Ngài không quên cám ơn con và hứa với con rằng ngài sẽ bảo trợ con trước mặt THIÊN CHÚA. Nhưng con lại ngã bệnh, và vì nỗi đau khổ của con chấm dứt cùng lúc với các nỗi đau khổ của ngài, nên con được khỏi bệnh ngay sau đó.
... ”Lạy THIÊN CHÚA, phần con đây, vẫn một bề trông cậy, và gia tăng lời tán tụng Ngài. Miệng con công bố Ngài chính trực, suốt ngày tường thuật ơn cứu độ Ngài ban, ơn của Ngài, nhiều khôn xiết kể! Con thuật lại bao chiến công của Chúa, nhắc nhở rằng: chỉ mình Ngài chính trực công minh .. Lạy THIÊN CHÚA, đức chính trực của Ngài cao vời vợi. Ngài đã làm những việc lớn lao, lạy THIÊN CHÚA, nào ai sánh tày! Ngài đã bắt con nếm mùi tân khổ, chính Ngài sẽ cho con được hoàn sinh và kéo ra khỏi vực sâu lòng đất. Phần vinh hoa, Ngài sẽ ban nhiều, và trở lại vỗ về an ủi. Lạy THIÊN CHÚA, con dạo khúc hạc cầm tạ ơn Ngài thành tín. Gảy cung tỳ bà, con ngâm vịnh kính dâng Ngài, lạy Đức Thánh của Israel. Miệng con sẽ reo hò theo nhịp đàn mừng Chúa. Hồn con nữa, hồn con Ngài cứu chuộc, cũng vui sướng hò reo. Và suốt ngày con nhẩm đi nhắc lại: quả thật Ngài công minh!”
(Thánh Vịnh 71(70) 14-17+19-24).
(”Sainte Marguerite-Marie: Sa vie par elle-même”, Editions Saint-Paul, 1979, trang 133-134)
Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt
MẸ CHỈ CẦN DUY NHẤT MỘT THÁNH LỄ
Ngày 3-2-1944, một cụ bà gần 80 tuổi qua đời. Cụ bà đó không ai khác là thân mẫu tôi.
Tôi lặng lẽ chiêm ngắm gương mặt Mẹ dịu hiền nơi nhà nguyện nghĩa trang, trước khi hạ huyệt. Trong tâm tình con thảo và nhất là, trong tư cách Linh Mục, tôi thì thầm với Mẹ: “Mẹ à, từ ngày có trí khôn đến giờ, con chưa bao giờ thấy Mẹ lỗi phạm nặng nề một luật nào của Chúa!”
Và tôi hồi tưởng những chặng đường qua của cuộc đời Mẹ.
Mẹ tôi có một đời sống thật gương mẫu. Sở dĩ tôi được làm Linh Mục phần lớn là nhờ công lao của Mẹ hiền.
Mỗi ngày, Mẹ tôi tham dự Thánh Lễ rước lễ, kể cả vào những năm cuối đời, tuổi đã cao. Khi đi cũng như lúc về, Mẹ tôi đều cầm tràng hạt trong tay. Mỗi khi rỗi rảnh, Mẹ thường lần hạt, đọc kinh Mân Côi. Mẹ tôi rất có lòng bác ái, thương người đến độ mất một con mắt, chỉ vì liều mạng cứu sống một người đàn bà nghèo. Chưa hết. Mẹ tôi luôn chấp nhận thánh ý Thiên Chúa. Ngày thân phụ tôi qua đời, Mẹ tôi hỏi: “Trong lúc này đây, Mẹ có thể than thở gì với Đức Chúa GIÊSU để làm đẹp lòng Ngài?” Tôi trả lời: “Mẹ cứ lập đi lập lại câu: Lạy Chúa, xin cho thánh ý Chúa được thực hiện.”
Trên giường bệnh, Mẹ tôi lãnh các Bí Tích sau cùng với Đức Tin sâu xa.
Mấy giờ trước khi tắt thở, Mẹ tôi đau đớn vô cùng. Nhưng Mẹ không ngừng lập đi lập lại: “Lạy Đức Chúa GIÊSU, con muốn xin Chúa giảm cơn đau cho con. Tuy nhiên, con không dám áp đặt ý con trên thánh ý Chúa. Trái lại, xin cho thánh ý Chúa được thể hiện.”
Với lời sau cùng này, Mẹ tôi - người phụ nữ đã cưu mang, sinh hạ và dưỡng dục tôi nên người - trút hơi thở cuối cùng. Sau khi Mẹ tôi qua đời, ai ai cũng nức lời khen ngợi Mẹ, người đàn bà đức hạnh. Tuy nhiên, tôi không để ý đến lời ca tụng của người đời cho bằng nghĩ đến sự phán xét công minh của Thiên Chúa. Do đó, tôi làm nhiều việc lành, sốt sắng dâng Thánh Lễ và không ngừng cầu nguyện cho Linh Hồn Mẹ sớm tận hưởng Thánh Nhan Thiên Chúa.
Ngoài ra, mỗi khi có dịp giảng, tôi đều nhắn nhủ các tín hữu Công Giáo hãy năng nhớ giúp đỡ các Linh Hồn nơi Lửa Luyện Ngục. Giúp đỡ bằng nhiều cách: tham dự Thánh Lễ, rước lễ và làm việc lành phước đức, bố thí giúp đỡ người nghèo.
Thiên Chúa Nhân Lành cho phép Mẹ hiện về với tôi.
Đúng hai năm rưỡi sau khi qua đời, Mẹ tôi bỗng xuất hiện trong phòng, dưới hình dạng con người. Mẹ trông thật buồn bã. Mẹ tôi nói: “Các con đã bỏ quên Mẹ trong Luyện Ngục!”
Tôi ngạc nhiên hỏi lại: “Ủa, cho tới bây giờ mà Mẹ còn ở trong Luyện Ngục hay sao?”
Mẹ tôi đáp: “Đúng thế! Mẹ vẫn còn ở trong Luyện Ngục. Bóng tối vây phủ Linh Hồn Mẹ, khiến Mẹ không thể trông thấy Ánh Sáng là Thiên Chúa... Mẹ đang ở ngưỡng cửa Thiên Đàng, gần nơi an vui vĩnh cửu và Mẹ nồng nhiệt ước muốn được vào, nhưng Mẹ không thể nào vào được! Không biết bao nhiêu lần Mẹ tự nhủ: Nếu các con biết mình đang bị dằn vặt khốn khổ khôn lường, hẳn là chúng đã cấp tốc ra tay cứu giúp mình!”
Tôi hỏi tiếp: “Sao trước đây Mẹ không hiện về báo cho chúng con biết?”
Mẹ tôi buồn bã trả lời: “Mẹ đâu có được phép!”
Tôi lại hỏi: “Mẹ vẫn chưa được trông thấy Thiên Chúa sao?”
Mẹ tôi giải thích: “Khi vừa tắt thở, Mẹ đã được trông thấy Chúa nhưng chưa được trông thấy trọn Ánh Sáng Vinh Quang của Chúa.”
Tôi hỏi tiếp: “Chúng con có thể làm được gì để giúp Mẹ ra ngay khỏi Luyện Ngục?”
Mẹ tôi nói: “Mẹ chỉ cần duy nhất một Thánh Lễ. Chúa cho phép Mẹ hiện về để xin con điều đó.”
Tôi không quên dặn dò Mẹ: “Khi nào được vào Thiên Đàng, Mẹ nhớ hiện về ngay báo tin cho con biết.”
Mẹ tôi trả lời: “Nếu Chúa cho phép Mẹ hiện về... Ôi Ánh Sáng thật tuyệt đẹp!”
Vừa nói Mẹ tôi vừa biến mất.
Chúng tôi dâng 2 Thánh Lễ cầu cho Linh Hồn Mẹ.
Một ngày sau, Mẹ tôi hiện về nói: “Mẹ đã được vào Thiên Đàng rồi!”
Chứng từ của Cha Giuseppe Tomaselli, người Ý, Dòng Don Bosco.
... "Từ vực thẳm, con kêu lên Ngài, lạy Chúa, muôn lạy Chúa, xin Ngài nghe tiếng con. Dám xin Ngài lắng tai để ý nghe lời con tha thiết nguyện cầu. Ôi lạy Chúa, nếu như Ngài chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng? Nhưng Chúa vẫn rộng lòng tha thứ để chúng con biết kính sợ Ngài. Mong đợi Chúa, con hết lòng mong đợi, cậy trông ở lời Người. Hồn con trông chờ Chúa, hơn lính canh mong đợi hừng đông. Hơn lính canh mong đợi hừng đông, trông cậy Chúa đi, Israel hỡi, bởi Chúa luôn từ ái một niềm, ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa. Chính Người sẽ cứu chuộc Israel cho thoát khỏi tội khiên muôn vàn” (Thánh Vịnh 130).
(”L'Aldilà .. Stupenda realtà”, Editrice Comunità, 1992, trang 265-266)
Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt (Đài Vatican - 02/11/2009)
NGUỒN GỐC LỄ CẦU HỒN VÀ THÁNG CÁC LINH HỒN.
Cha Odilo đã lập lễ Cầu hồn vào ngày 2 tháng 11 và trước hết cử hành trong đan viện Cluny của ngài vào năm 998 (có sách nói năm 1030). Về sau lễ cầu hồn đã được truyền sang nuớc Pháp, và tới giữa thế kỉ 10, Đức Giáo hoàng Gioan 14 đã lập lễ Cầu hồn trong Giáo hội Rôma.
Theo sách vở ghi lại, thì thánh Odilo (962- 1048) là viện phụ đan viện Cluny. Đan viện này thời đó nằm trong phần đất của đế quốc Germany.
Ngài là người thánh đức, thường cầu nguyện, hi sinh , và dâng lễ cầu cho các linh hồn đã qua đời.
Truyện kể rằng:
Một hôm, một đan sĩ Dòng ngài đi viếng Đất thánh Giêrusalem. Trên đường trở về Đan viện Cluny. Tàu chở đan sĩ bị bão đánh giạt vào một hòn đảo. Tại đó, đan sĩ gặp một ẩn sĩ và được ẩn sĩ cho biết:
"Trên đảo này có nhiều hang lửa, trong hang có nhiều người bị hành hạ, đánh đập. Tôi thường nghe các tên quỉ phàn nàn với nhau về Viện phụ Odilo và các đan sĩ Dòng của ngài rằng: ngày nào họ cũng giải thoát một số linh hồn ra khỏi hang lửa đó. Vì thế, xin thầy về nói với cha Odilo và các anh em trong Dòng cứ tiếp tục cứu giúp các linh hồn đau khổ. Đó cũng là niềm vui cho các thánh trên Thiên đàng và là sự đau khổ cho quỉ dữ dưới Hỏa ngục".
Sau khi nghe biết sự việc này, cha Odilo đã lập lễ Cầu hồn vào ngày 2 tháng 11 và trước hết cử hành trong đan viện Cluny của ngài vào năm 998 (có sách nói năm 1030). Về sau lễ cầu hồn đã được truyền sang nuớc Pháp, và tới giữa thế kỉ 10, Đức Giáo hoàng Gioan 14 đã lập lễ Cầu hồn trong Giáo hội Rôma.
Từ thời đó, nhiều nơi đã có thói quen cầu nguyện tuần chín ngày cho các linh hồn, họ đi thăm viếng, sửa mồ mả cha ông. Vào buổi chiều lễ Các Thánh, có những người đi từng nhà xin quà cho các linh hồn, họ hát những bài ca cổ truyền cổ động cầu cho các linh hồn mau ra khỏi Luyện ngục.
- Tại nước Hungary, người ta gọi ngày 2/11 là "Ngày người chết". Ngày đó, người ta có thói quen tụ họp các trẻ mồ côi tới gia đình họ rồi cho chúng ăn, cho quần áo, cho quà bánh, đồ chơi.
- Tại miền quê nước Poland, người ta kể: nửa đêm lễ Cầu hồn, người ta thắp sáng nhà thờ giáo xứ, để các linh hồn trong xứ đã qua đời về quanh bàn thờ cầu ơn giải thoát khỏi luyện ngục. Người ta nói là, sau đó trở lại thăm lại nhà mình, thăm nơi mình quen thuộc, làm việc mình đã làm khi còn sống. Và để đón tiếp những linh hồn này, người ta để cửa sổ mở suốt đêm mùng 2.
...........
- Tại Việt nam, nhất là miền Bắc, trước Công đồng Vaticanô 2 (62-65) người ta thường sửa mồ mả cha ông vào dịp Tết Nguyên đán đầu năm Âm lịch, tính theo mặt trăng, còn lễ Cầu hồn, người ta đi viếng các nhà thờ chung quanh suốt ngày lễ Các Thánh để lãnh ân xá chỉ cho các linh hồn đã qua đời. Cảnh người lớn trẻ em tấp nập ra vào rất vui vẻ. Người ta dự lễ và xin lễ rất nhiều để cầu cho Tổ tiên, Ông bà, Cha mẹ sớm về hưởng phước Thiên đàng.
--------------------------
*Thương nhớ người quá cố, nhất là cha mẹ, anh chị em trong gia đình là chuyện tự nhiên của con người.
*Ao ước cho người thân mình được "nghỉ yên muôn đời trong nơi mát mẻ hạnh phúc" cũng là tâm lí thông thường.
*Do đó việc cầu cho người thân đã qua đời là việc cần thiết, vừa cho linh hồn người chết được cứu thoát khỏi Luyện ngục, vừa cho người sống được tỏ lòng hiếu thảo đền ơn.
Những điều trên không những hợp lòng người, mà còn hợp giáo lí trong đạo. Giáo lí Công giáo do Đức Thánh cha Gioan Phaolo 2 ban hành năm 1992 có 3 số như sau:
- Số 1030: Cần có Luyện ngục:
"Những ai chết trong ân sủng và ân nghĩa của Thiên Chúa, nhưng chưa được thanh tẩy cách trọn vẹn, thì tuy được bảo đảm về ơn cứu độ muôn đời của mình, vẫn phải chịu một sự thanh luyện sau khi chết, hòng đạt được sự thánh thiện cần thiết để bước vào niềm vui thiên đàng.
- Số 1031: Luyện ngục để thanh tẩy:
"Giáo Hội gọi là luyện ngục là sự thanh luyện sau cùng này của các người được chọn, hoàn toàn khác với hình phạt của những kẻ bị án phạt. Giáo Hội đã trình bày giáo lý của đức tin về Luyện ngục, nhất là tại các Công đồng Florentia (xem DS 1304) và Trentô (xem DS 1820; 1580).
Dựa vào một số bản văn của Thánh Kinh (Chẳng hạn 1 Cr 3,15; 1 Pr 1,7), Truyền thống của Giáo Hội nói đến một thứ lửa thanh luyện:"Đối với một số những lỗi lầm nhẹ, ta phải tin có một thứ lửa thanh tẩy trước ngày Phán xét, theo như những gì mà Đấng là Chân lý đã dạy khi Ngài nói rằng nếu ai nói lời phạm thánh chống lại Chúa Thánh Thần, thì sẽ không được tha cả đời này lẫn ở đời sau" (Mt 12,31). Theo lời quyết đoán này, chúng ta có thể hiểu rằng một số lỗi lầm có thể được tha ở đời này, nhưng một số lỗi khác thì được tha ở đời sau" (Th. Gregoriô Cả, Dial. 4,39).
- Số 1032: Người sống cứu người chết:
"Giáo huấn này cũng dựa vào cách cầu nguyện cho kẻ chết, như được nói đến trong Thánh Kinh: "Đó là lý do tại sao ông Giuđa Macabê đã truyền phải dâng hy lễ đền tội này cho các người đã chết, để họ được giải thoát khỏi tội lỗi của mình" (2 Mcb 12,46).
Ngay từ những thời gian đầu, Giáo Hội đã tôn kính việc tưởng niệm các người đã qua đời, và dâng kinh lễ để cầu cho họ, nhất là dâng Thánh lễ( xem DS 856), để họ được thanh tẩy và tiến vào nơi chiêm ngưỡng Thiên Chúa. Giáo Hội cũng khuyên làm việc bố thí, hưởng các ân xá và thi hành những việc đền tạ để giúp các người đã qua đời:
Chúng ta hãy cứu giúp họ và hãy tưởng nhớ họ. Nếu các con ông Gióp đã được thanh tẩy nhờ lễ hy sinh của cha họ( xem G 1,5), tại sao chúng ta lại có thể hoài nghi rằng những của lễ của chúng ta dâng cầu cho người chết sẽ không mang lại ủi an cho họ? Vậy chúng ta đừng ngần ngại cứu giúp những người đã ra đi, và dâng những kinh nguyện cầu cho họ (Th. Gioan Kim khẩu, Hom. in 1 Cr 41,5).
* Ngày 10 tháng 8 năm 1915, Trong một Tông hiến, Tòa thánh cho các linh mục được dâng 3 lễ vào ngày lễ Cầu hồn: 1 cầu như ý người xin, được lấy bổng lễ, 1 cầu theo ý ĐTC (không bổng) và 1 cầu cho các linh hồn (không bổng). Giáo hội cũng xác định dành trọn tháng 11 dành để cầu cho các linh hồn Luyện ngục.
* Ngày 1 tháng 11 năm 1967, ĐTC Phaolô 6, trong Tông huấn Ân xá đã ban một đại xá với điều kiện thường lệ (xưng tội, rước lễ, cầu theo ý ĐGH) cho những ai "viếng nhà thờ vào Chúa nhật trước hoặc sau, hoặc chính lễ Các Thánh (số 67), và những ai viếng nghĩa địa trong 8 ngày đầu tháng 11 để cầu cho các linh hồn (số 13).
--------------
Tháng cầu hồn ta lo cứu giúp,
Các linh hồn luyện ngục chờ mong,
Thoát ra khỏi ngọn lửa hồng,
Vui về bên Chúa trả công cứu người.
---------------------
Trong mầu nhiệm các thánh thông công, chúng ta cầu cho các linh hồn Luyện ngục, để
khi về Thiên đàng, các Ngài sẽ cầu lại cho ta trước tòa Chúa.
Sưu tầm 2011
LINH HỒN LUYỆN NGỤC HIỆN VỀ
XIN GIA NHẬP HỘI MÂN CÔI
Có 1 thiếu phụ khi còn sống giữ đạo bình thường. Tuy không có gì xuất sắc, nhưng cũng không phạm lỗi lầm gì đáng Chúa phạt lâu dài trong luyện ngục. Chẳng may lâm bệnh nặng, chị đã qua đời khi còn rất trẻ. Chị phải giam cầm nơi luyện ngục để đền tội. Chị rất hối hận và tự nhủ: giá khi còn sống mình đã gia nhập Hội Mân Côi như mấy người bạn, thì bây giờ đâu có phải giam cầm khổ cực như thế này.
Rồi 1 hôm vào ngày lễ kính Đức Mẹ. Đức Mẹ xuống luyện ngục yên ủi các linh hồn, và dẫn đưa 1 số về thiên đàng. Chị vội vàng chạy đến với Đức Mẹ than thở khóc lóc. Đức Mẹ phán bảo: khi còn sống con đã rất khô khan nguội lạnh, và biếng trễ việc lần chuỗi Mân Côi kính Mẹ. Vậy bây giờ Mẹ cho con về thế gian, gặp chị bạn, nói với chị là con muốn xin gia nhập Hội Mân Côi để được hưởng các công phúc do hội viên hằng ngày lần chuỗi Mân Côi dâng lên cho Mẹ, dù bây giờ con không còn lập công gì được nữa.
Chị rất vui mừng, nửa đêm hiện về với người bạn cũ, và nói: em đang phải giam cầm nơi luyện ngục, khổ sở lắm! Đức Mẹ cho em về để nhờ chị nói với hội Mân Côi cho em được ghi tên vào sổ Hội, để em được hưởng các ơn phúc do hội viên đã làm, đang làm, và sẽ làm.
Chị bạn vừa sợ hãi, vừa cảm nghiệm được lòng thương xót của Đức Mẹ đối với các linh hồn nơi luyện ngục như thế nào? Chị yên ủi linh hồn đó, và nói: chị đã chết rồi, còn gia nhập Hội Mân Côi làm gì, để em nói với Hội cầu nguyện cho chị. Nhưng linh hồn ấy cứ năn nỉ: chính Đức Mẹ đã bảo em như vậy. Chị cứ xin cho em được ghi tên vào sổ Hội Mân Côi.
Nể lời 1 linh hồn, và cũng là 1 sự rất lạ từ xưa đến nay chưa bao giờ gặp 1 trường hợp hy hữu thế này. Sáng hôm sau, chị dậy thật sớm, vào gặp linh mục và ông Hội Trưởng, trình bày sự việc đã xảy đêm qua. Tất cả mọi người đều cảm động, chấp thuận cho ghi tên chị vào sổ Hội Mân Côi.
Ba tháng sau, linh hồn ấy hiện về, vui tươi sáng láng, và nói: nhờ lời cầu nguyện của các hội viên Mân Côi, mà nay em được thoát khỏi lửa luyện tội, và được hưởng nhan thánh Chúa và Đức Mẹ trên thiên đàng. Vậy chị hãy thông báo cho mọi người biết giá trị chuỗi hạt Mân Côi hiệu nghiệm biết chừng nào! Và các ơn ích bởi việc gia nhập Hội Mân Côi là 1 phương thức cứu các linh hồn trong luyện ngục hữu hiệu nhất.
Truyện tích 2 trong 100 Truyện Tích Chuỗi Hạt Mân Côi
sưu tầm 2024
- dongcong.net sưu tầm --
November 5, 2024