tháng cầu hồn
 
 

Suy Tư Tháng Cầu Hồn -góp nhặt

Bài 31

CHUYẾN ĐỜI

Chết là “chuyến định mệnh” của mọi người, không ai tránh khỏi: “Phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét” (Dt 9:27).

Cuộc đời có rất nhiều chuyến xe: Xe khách, xe tải, xe buýt, xe xích lô, xe ôm, xe chở hàng, xe buôn lậu, xe tăng, xe hủ lô, xe cứu thương, xe cứu hỏa, xe hành hương, xe cứu trợ, xe cảnh sát, xe dân sự, xe hoa, xe tang,… Trong đó có loại xe tốt, có loại xe không tốt, có chuyến xe an toàn, có chuyến xe không an toàn.

Cuộc đời có nhiều chuyến xe, nhưng mỗi người chỉ có một “chuyến đời”, một chuyến duy nhất để mà sống, không thể “rút kinh nghiệm” cho chuyến nào khác. Tuy nhiên, với “chuyến đời” ấy, vấn đề không phải là dài hay ngắn, đi trên đường đất bụi mù hay đường nhựa trơn láng, đường hẹp và đầy ổ gà hay đường rộng thênh thang và đẹp đẽ, mà vấn đề là “chuyên chở” những thứ gì.

Từ hồi còn là thiếu niên, tôi đã cảm thấy thích ca khúc “Những Chuyến Xe Trong Cuộc Đời” của Nhạc sĩ Hoài Linh (*). Theo tôi, ca khúc này đầy triết lý của kiếp người. Với cấu trúc phổ biến A–A’–B–A’’ đối với các ca khúc trong nửa sau của thế kỷ XX, nhưng “Những Chuyến Xe Trong Cuộc Đời” không hề đơn điệu, giai điệu nhẹ nhàng và sâu lắng, ca từ bình dị mà thâm thúy: “Chuyến xe đầu, đưa người từ lòng nôi vào tư thế chơi vơi. Tay không hành lý ngóng nhìn về tương lai, ngỡ ngàng lên tiếng khóc cười, thay cho lời đầu tiên người nói”.

Người ta bật khóc ngay khi vừa sinh ra. Phải chăng vì “tay không hành lý” hay là “điềm báo” về chuyến đời đầy gian truân, khổ ải? Có lẽ trước tiên vì “tay khôn hành lý” nên cính chuyến xe đầu tiên ấy đưa con người vào “tư thế chơi vơi”, thế nên con người cứ “ngóng nhìn về tương lai”, để rồi biết bao lần “ngỡ ngàng lên tiếng khóc, cười”. Chưa gì đã thấy buồn rồi!

Khởi đầu cuộc đời bằng tiếng khóc, nối tiếp là những nỗi buồn: “Tháng năm dài, vui buồn tuổi trầm vui, ngọt cay cũng mau quen. Xe lăn một chuyến cát bụi mòn chân đen, sang giàu may mắn phút đầu, hay nhịp độ gãy đôi ba cầu”. Tác giả dùng từ cũng lạ: Trầm vui. Vui mà trầm lặng chứ không ồn ào, náo nhiệt!

Vâng, nỗi buồn quá nhiều, mà niềm vui quá ít. Nhưng cứ phải chịu đựng mãi rồi cũng thành quen. “Người ăn không hết, kẻ lần không ra” như một quy luật. Nhiều người phải gian nan đủ thứ mới được thanh thản đôi chút, như người ta thường nói: “Ba chìm, bảy nổi, chín lênh đênh”. Mệt thật! Hạnh phúc nào cũng tốn nhiều nước mắt, vinh quang nào cũng chứa nhiều tủi nhục, thành công nào cũng nếm nhiều thất bại.
Thế mà sóng đời vẫn chưa chịu lặng, cuộc đời cứ chông chênh mãi: “Xe hoa đưa người êm ấm tình nồng, em anh nên đôi vợ chồng, xe tơ hồng một duyên hai bóng. Duyên đưa, có người chỉ một xe đầu, có người vài lần thương đau, có người chẳng bao giờ đâu”.

Chuyến xe được người ta quan tâm nhất là “chuyến xe hoa”. Thế nhưng các cô gái miền quê có lấy chồng cũng chẳng được ngồi xe hoa về nhà chồng, có chăng việc “lên xe hoa” của họ là ngồi trên chiếc xe trâu hoặc xe bò lọc cọc leo đồi mà về nhà chồng, thậm chí có những người còn phải lội bộ. Đối với họ, “xe hoa” chỉ có trong thơ văn, nghệ thuật.

Có những cô gái chỉ một lần lên xe hoa, nhưng có người lên xe hoa chưa được bao lâu đã phải khóc thương người chồng bạc mệnh, hoặc vì lý do nào đó mà phải chia tay. Có người bước thêm bước nữa nhưng rồi cũng chẳng vui hạnh phúc được bao lâu. Tái giá vài lần mà hạnh phúc vẫn xa tầm tay. Và “có người chẳng bao giờ đâu”, nghĩa là họ không lên xe hoa, vì nhiều hoàn cảnh khác nhau. Không ai hiểu được ẩn số cuộc đời nên người ta gọi đó là “duyên số” hoặc “duyên phận”, hoặc “định mệnh”.

Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng. Biển không bao giờ cạn nước, thế nên khổ hải (bể khổ) cũng chẳng bao giờ hết đau khổ: “Sáng trưa chiều, khi tuổi đời nặng gieo, vòng tay cũng xuôi theo. Công danh ngày ấy, giấc mộng tình hôm nay, cũng về như chiếc lá gầy, xe đơn lạnh tiễn ai trong này”.

Ai cũng một thời trẻ, rồi già: “Khi tuổi đời nặng gieo”. Và đó là lúc “vòng tay cũng xuôi theo”, nghĩa là Tử thần bắt đầu “dòm ngó” hoặc đứng chờ ngoài cửa. Công danh, sự nghiệp, tiền tài, địa vị, tình yêu,… cũng chẳng còn nghĩa lý gì, vì tất cả “cũng như chiếc lá gầy”, cuối cùng chỉ còn là “chuyến xe đơn lạnh” mà thôi. Chuyến xe đó chính là chuyến xe tang!

Cuối ngày. Cuối tháng. Cuối năm. Và đặc biệt là cuối đời. Định luật muôn thuở và bất biến. Thời gian không nhanh, không chậm, muôn thuở vẫn vậy. Cảm giác nhanh hay chậm là do cảm giác của con người tùy thuộc cảm xúc vui hay buồn. Người ta vui thì thấy thời gian trôi qua mau, người ta buồn thì thấy thời gian trôi qua chậm. Người ta trẻ thì thấy thời gian “dài” với sắc màu rực rỡ, người ta già thì thấy thời gian “ngắn” với sắc màu ảm đạm. Chuyện đời bình thường vậy thôi!

Người ta gọi cuộc sống là “dòng đời” vì người ta thấy nó cũng cứ trôi đi như dòng sông. Sông hoặc biển cũng đều có sóng. Và cuộc sống cũng có một loại sóng đặc trưng là “sóng đời”. Với ý nghĩa đó, trong ca khúc “Sóng Về Đâu”, NS Trịnh Công Sơn viết: “Biển sóng biển sóng đừng xô tôi, đừng xô tôi ngã dưới chân người… Biển sóng biển sóng đừng trôi xa, Bao năm chờ đợi sóng gần ta, Biển sóng biển sóng đừng âm u, Đừng nuôi trong ấy trái tim thù”.

Trăm năm tưởng dài mà ngắn. Đời người qua nhanh tựa “bóng câu qua cửa sổ” (Trang Tử – Nam Hoa Kinh). Tương tự, Nguyễn Gia Thiều (1741–1798) cũng đã diễn tả trong “Cung Oán Ngâm Khúc”: “Đời người như bóng câu thoáng bên mành mấy nỗi”. Đó là sự thật minh nhiên, không thể chối cãi. Tác giả Thánh Vịnh nhận định:

Kiếp phù sinh, tháng ngày vắn vỏi
Tươi thắm như cỏ nội hoa đồng
Một cơn gió thoảng là xong
Chốn xưa mình ở cũng không biết mình
(Tv 103:15-16)

Nghe buồn quá. Nhưng đó là sự-thật-của-sự-thật. Không ai có thể làm gì. Không còn cách nào khác. Con người xem chừng đành thúc thủ, nhưng người ta vẫn có thể “quản lý” những “vật dụng” trong “chuyến đời” của mình. Bằng cách nào?

Chắc hẳn chẳng còn cách nào khác hơn là “sống tốt”. Có nhiều cách sống tốt, nhưng có thể tạm tóm lược qua mấy điểm chính: Đứng đắn, tử tế, nhân bản, yêu thương, và hòa nhã. Đó là cách sống tích cực trong mọi hoàn cảnh. Một danh nhân đã nói: “Chỉ có người biết yêu thương mới xứng đáng nhận danh hiệu con người”. Quả đúng là như vậy!

Nghe buồn quá. Nhưng đó là sự-thật-của-sự-thật. Không ai có thể làm gì. Không còn cách nào khác. Con người xem chừng đành thúc thủ, nhưng lại có thể “quản lý” những “vật dụng” trong “chuyến đời” của mình. Bằng cách nào?

Thánh Faustina tâm sự về “chuyến đời” của Chị: “Tôi luôn hiện diện trước mặt Thiên Chúa trong linh hồn tôi, và tôi kết hiệp mật thiết với Ngài. Tôi làm việc với Ngài, tôi giải trí với Ngài, tôi chịu đau khổ với Ngài, tôi vui mừng với Ngài; tôi sống trong Ngài và Ngài sống trong tôi. Tôi không bao giờ cô đơn, vì Ngài luôn đồng hành với tôi” (Nhật Ký, số 318).

Ước gì chúng ta cũng được như vậy! Theo lời khuyên (và cũng là mệnh lệnh) của Chúa Giêsu, chúng ta cần phải thực hành điều Ngài đã mặc khải qua Kinh Thánh: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16), hoặc “ai tin vào người Con thì được sự sống đời đời; còn kẻ nào không chịu tin vào người Con thì không được sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên kẻ ấy” (Ga 3:36), và qua mặc khải với Thánh Faustina: “Lạy Chúa Giêsu, con TÍN THÁC vào Ngài!”.

Ôi lạy Chúa, nếu như Ngài chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng? Nhưng Chúa vẫn rộng lòng tha thứ để chúng con biết kính sợ Ngài (Tv 130:3-4). Xin cho chuyến đời của chúng con được đến Bến An Bình. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Nghe ca khúc “Những Chuyến Xe Trong Cuộc Đời”

http://www.youtube.com/watch?v=iRaIQiNsJ3E
____________
(*) Nhạc sĩ Hoài Linh tên thật là Lê Văn Linh, người gốc miền Bắc, sinh vào khoảng 1925. Ông cũng sáng tác những bài hát có nét nhạc cổ điển ảnh hưởng bởi thời cuộc, ca từ lãng mạn nhưng chưa vương khói lửa chiến chinh. Các ca khúc nổi tiếng của NS Hoài Linh thời gian đầu là bài Nếu Đừng Dang Dở và Sầu Tím Thiệp Hồng. Sau đó, ông có nhiều bài khác được nhiều người biết đến: Áo Em Chưa Mặc Một Lần, Căn Nhà Màu Tím, Chuyến Đò Không Em, Cô Bé Ngày Xưa, Giọt Lệ Vu Quy, Hai Đứa Giận Nhau, Khách Lạ Đò Xưa, Lá Thư Trần Thế,  Nhịp Cầu Tri Âm, Tám Nẻo Đường Thành, Tâm Sự Nàng xuân, Thiệp Hồng Anh Viết Tên Em, Về Đâu Mái Tóc Người Thương, Xin Tròn Tuổi Loạn, Xuân Muộn,... Nói chung, ông có khá nhiều ca khúc quen thuộc với người thưởng thức âm nhạc.

 

TÒA ÁN VÀ LƯƠNG TÂM

Tòa án là cơ quan thực hiện chức năng tư pháp của một quốc gia, và là nơi xét xử các trường hợp phạm pháp. Người xét xử là người “cầm cân nảy mực”, vì thế mà phải công tâm, nếu không thì nguy hiểm, hóa phi pháp. Tòa án là nơi thực hiện Công Lý, nhưng đôi khi vẫn có những trường hợp “hối lộ”, như tục ngữ đã nói: “Đồng bạc đâm toạc tờ giấy”. Đây là dạng lương tâm lệch lạc, thiên vị, bất chính!

Tòa án có nhiệm vụ xét xử. Xét xử liên quan xét đoán (đoán xét). Có những điều phải “đoán” rồi mới “xét”, chứ không thể “xét” rồi mới “đoán”. Khi đã “xét” thấu đáo rồi thì “xử”, gọi là xét xử. Không phiên tòa nào cần thiết bằng Phiên tòa Lương tâm. Tự xử mới là điều khó nhất. Thực tế xã hội cho thấy có những trường hợp bị xét xử và bị kết án tù oan sai cả vài chục năm, chứ đừng nói vài năm, nhưng có những trường hợp phạm pháp nghiêm trọng mà thủ phạm không hề bị xét xử. Tại sao vậy? Đó là hậu quả của những người hữu trách có lương tâm lệch lạc, bất chính. Đúng như Thánh Phaolô nói: “Cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc, vì buông theo lòng ham muốn đó, nhiều người đã lạc xa đức tin và chuốc lấy bao nỗi đớn đau xâu xé” (1 Tm 6:10).

Càng ngày càng có nhiều loại tội phạm. Ngày nay thấy xuất hiện loại tội phạm mới: Tội phạm lương tâm. Phạm tội thì phải tù. Người ta gọi những người phạm tội đó là “tù nhân lương tâm”. Người ta quan trọng hóa nhiều loại tội phạm nhưng lại không đề cao Tòa án Lương tâm. Lạ thật!

Phiên tòa Lương tâm cần thiết, nhưng Phiên tòa Cánh chung quan trọng nhất, vì đó là Cuộc Phán Xét Chung. Và rồi bất cứ ai cũng phải một lần đứng trước vành móng ngựa tại “phiên tòa” độc nhất vô vị này. Trình thuật Mt 25:31-46 cho thấy chi tiết về Phiên Tòa Chung Thẩm này.
Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người. Các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê. Người sẽ cho chiên đứng bên phải Người, còn dê ở bên trái. Bấy giờ, Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên phải: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han”. Bấy giờ, những người công chính sẽ thưa: “Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống; có bao giờ đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước; hoặc trần truồng mà cho mặc? Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù, mà đến hỏi han đâu?”. Đức Vua sẽ đáp lại: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”.

Rồi Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên trái: Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng”. Bấy giờ, những người ấy cũng sẽ thưa: “Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói, khát, hoặc là khách lạ, hoặc trần truồng, đau yếu hay ngồi tù, mà không phục vụ Chúa đâu?”. Bấy giờ, Người sẽ đáp lại họ: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy”. Thế là họ ra đi để chịu cực hình muôn kiếp, còn những người công chính ra đi để hưởng sự sống muôn đời.

Đoạn Phúc Âm này không xa lạ gì, nghĩa là rất quen thuộc. Chúng ta nghe nhiều lần rồi, ít là mỗi năm một lần vào khoảng thời gian cuối năm đời thường và cuối năm phụng vụ. Chính Chúa Giêsu là Vị Thẩm Phán tối cao của Phiên Tòa Chung Thẩm: “Chúa Cha không xét xử một ai, nhưng đã ban cho người Con mọi quyền xét xử. Chúa Cha có sự sống nơi mình thế nào thì cũng ban cho người Con được có sự sống nơi mình như vậy, lại ban cho người Con được quyền xét xử, vì người Con là Con Người” (Ga 5:22, 26-27).

Qua đó, chúng ta thấy rằng cũng với các hành động như nhau, nhưng giữa bên “chiên” và bên “dê” chỉ khác nhau một chữ “không” (chẳng). Chính động thái “không” này xảy ra có liên quan lương tâm của chúng ta, đó là quyền tự do của chúng ta. Và cũng chỉ vì chữ “không” đó mà “những người đứng ở bên trái” sẽ phải lãnh án tử đời đời. Tuy nhiên, những người bị loại án tử này mà lại không “chết”, họ vẫn “sống” cả hồn và xác, “sống” mà lại “chết”. Kỳ lạ và đáng sợ! Hiện nay chúng ta không thể hiểu thấu, vì đó là trạng thái vĩnh hằng, cuộc đời trần gian này không có gì có thể so sánh được.

Đó là chuyện xét xử tâm linh. Còn chuyện xét xử đời thường cũng có những điều “nhắc nhở” và là bài học quý giá.

1. Câu chuyện có thật đã xảy ra ở đất nước Indonesia.

Tại phòng xử án, thẩm phán trầm ngâm suy nghĩ trước lời cáo buộc của các công tố viên đối với một cụ bà phạm tội ăn cắp khoai mì (sắn). Bà bị buộc phải bồi thường 1 triệu Rupiah. Lời bào chữa của bà về lý do ăn cắp: Gia đình bà rất nghèo, đứa con trai bị bệnh, đứa cháu suy dinh dưỡng vì đói khát. Nhưng ông chủ quản lý khu vườn trồng khoai mì nói rằng bà ta phải bị xử nghiêm minh như những người khác.
Thẩm phán thở dài: “Xin lỗi, thưa bà...”. Ông ngưng giây lát, nhìn bà cụ đói khổ, rồi nói: “Nhưng pháp luật là pháp luật, tôi là người đại diện của Pháp luật nên phải xử nghiêm minh. Nay tôi tuyên phạt bà bồi thường 1 triệu Rupiah cho chủ vườn. Nếu bà không có tiền bồi thường, bà buộc phải ngồi tù 2 năm rưỡi”.

Bà cụ run run, rướm nước mắt, bà đi tù rồi thì con cháu ở nhà ai chăm lo? Ông thẩm phán nói tiếp: “Nhưng tôi cũng là người đại diện của công lý. Tôi tuyên bố phạt tất cả những công dân nào có mặt trong phiên toà này 50.000 Rupiah vì sống trong một thành phố văn minh, giàu có này mà lại để cho một cụ bà ăn cắp vì cháu mình bị đói và bệnh tật. Nói xong, ông lấy mũ của mình đưa cho cô thư ký: “Cô hãy đưa mũ này truyền đi khắp phòng và tiền thu được hãy đưa cho bị cáo”.

Cuối cùng, bà cụ đã nhận được 3,5 triệu Rupiah tiền quyên góp, trong đó có cả 50.000 Rupiah từ các công tố viên buộc tội bà, một số nhà hảo tâm khác còn trả giúp 1 triệu Rupiah tiền bồi thường, bà lão run run vì vô cùng vui sướng. Thẩm phán gõ búa kết thúc phiên toà. Tất cả mọi người đều mãn nguyện và hạnh phúc.

Đây là một phiên tòa xử nghiêm minh nhất và thật cảm động, vì tất cả chúng ta đều phải chịu trách nhiệm với cuộc sống xung quanh chúng ta. Đó là tính liên đới về tội lỗi. Vị thẩm phán là phàm nhân nhưng ông là người có tâm tính tốt lành, ông không chỉ dùng LUẬT PHÁP mà còn dùng cả TRÁI TIM để phân xử.

Khi xét đoán nhau, chúng ta cũng phải dùng cả trái tim mà xét cho hợp tình hợp lý. Vả lại, ơn gọi của bất cứ ai đều là Ơn Gọi Yêu Thương: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau, anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13:34).

2. Câu chuyện về bữa cơm của đại nhân Khổng Tử và các môn sinh.

Một lần nọ, Khổng Tử dẫn học trò đi du thuyết từ Lỗ sang Tề. Trong đám học trò đi với Khổng Tử có Nhan Hồi và Tử Lộ, hai môn sinh yêu quý của ngài Khổng Tử.

Trong thời Đông Chu, chiến tranh liên miên, các nước chư hầu loạn lạc, dân chúng phiêu bạt điêu linh, lầm than đói khổ. Thầy trò Khổng Tử cũng lâm vào cảnh rau cháo cầm hơi và cũng có nhiều ngày phải nhịn đói, nhịn khát. Tuy vậy, không một ai kêu than, thoái chí, tất cả đều đồng tâm nhất trí theo thầy đến cùng. May mắn thay, ngày đầu tiên đến đất Tề, có một nhà hào phú từ lâu đã nghe danh Khổng Tử, nên đem biếu thầy trò một ít gạo. Khổng Tử liền phân công Tử Lộ dẫn các môn sinh vào rừng kiếm rau, còn Nhan Hồi đảm nhận việc thổi cơm.

Tại sao Khổng Tử lại giao cho Nhan Hồi – một đệ tử đạo cao đức trọng mà Khổng Tử đã đặt nhiều kỳ vọng nhất – phần việc nấu cơm? Bởi lẽ, trong hoàn cảnh đói kém, và với nhãn quan tinh tường của ngài Khổng Tử khôn ngoan và thông thái, phân công cho Nhan Hồi việc bếp núc là hợp lý nhất.

Sau khi Tử Lộ dẫn các môn sinh vào rừng kiếm rau, Nhan Hồi thổi cơm ở nhà bếp, Khổng Tử nằm đọc sách ở nhà trên, đối diện với nhà bếp, cách một cái sân nhỏ. Đang đọc sách bỗng nghe một tiếng “cộp” từ nhà bếp vọng lên, Khổng Tử ngừng đọc, liếc mắt nhìn xuống thấy Nhan Hồi từ từ mở vung, lấy đũa xới cơm cho vào tay và nắm lại từng nắm nhỏ. Xong, Nhan Hồi đậy vung lại, liếc mắt nhìn chung quanh rồi từ từ đưa cơm lên miệng.

Hành động của Nhan Hồi không lọt qua đôi mắt của vị thầy tôn kính. Khổng Tử thở dài, ngửa mặt lên trời mà than: “Chao ôi! Học trò ưu ái nhất của ta mà lại đi ăn vụng thầy, vụng bạn, đốn mạt như thế này ư? Chao ôi! Bao nhiêu kỳ vọng ta đặt vào nó thế là tan thành mây khói!”.
Sau đó, Tử Lộ cùng các môn sinh khác mang rau về. Nhan Hồi lại luộc rau. Khổng Tử vẫn nằm im đau khổ. Khi rau chín, Nhan Hồi và Tử Lộ dọn cơm lên nhà trên. Tất cả môn sinh chắp tay mời Khổng Tử dùng cơm.

Khổng Tử nói: “Các con ơi! Chúng ta đi từ đất Lỗ sang Tề đường xa vạn dặm, thầy rất mừng vì trong hoàn cảnh loạn lạc, dãi nắng dầm mưa, đói khổ như thế này mà các con vẫn giữ được tấm lòng trong sạch, các con vẫn yêu thương đùm bọc nhau, các con vẫn một dạ theo thầy, trải qua bao nhiêu chặng đường đói cơm, khát nước. Hôm nay, ngày đầu tiên đến đất Tề, may mắn làm sao thầy trò ta lại có được bữa cơm. Bữa cơm đầu tiên trên đất Tề làm thầy chạnh lòng nhớ đến quê hương nước Lỗ. Thầy nhớ đến cha mẹ thầy, cho nên thầy muốn xới một bát cơm để cúng cha mẹ thầy, các con bảo có nên chăng?”.

Trừ Nhan Hồi đứng im, còn các môn sinh đều chắp tay thưa:“Dạ thưa thầy, nên ạ!”. Khổng Tử lại nói: “Nhưng không biết nồi cơm này có sạch hay không?”. Tất cả học trò không rõ ý Khổng Tử muốn nói gì nên ngơ ngác nhìn nhau. Lúc bấy giờ Nhan Hồi liền chắp tay thưa: “Dạ thưa thầy, nồi cơm này không được sạch”.

Khổng Tử hỏi: “Tại sao?”. Nhan Hồi lễ phép thưa: “Khi cơm chín con mở vung ra xem thử cơm đã chín đều chưa, chẳng may một cơn gió tràn vào, bồ hóng và bụi trên nhà rơi xuống làm bẩn cả nồi cơm. Con đã nhanh tay đậy vung lại nhưng không kịp. Sau đó con liền xới lớp cơm bẩn ra định vất đi nhưng lại nghĩ: cơm thì ít, anh em lại đông, nếu bỏ lớp cơm bẩn này thì vô hình chung làm mất một phần ăn, anh em hẳn phải ăn ít lại. Vì thế cho nên con đã mạn phép thầy và tất cả anh em, ăn trước phần cơm bẩn ấy, còn phần cơm sạch để dâng thầy và tất cả anh em. Thưa thầy, như vậy là hôm nay con đã ăn cơm rồi. Bây giờ, con xin phép không ăn cơm nữa, con chỉ ăn phần rau. Và thưa thầy, nồi cơm đã ăn trước thì không nên cúng nữa ạ!”

Nghe Nhan Hồi nói xong. Khổng Tử ngửa mặt lên trời mà than rằng: “Chao ôi! Thế ra trên đời này có những việc chính mắt mình trông thấy rành rành mà vẫn không hiểu được đúng sự thật! Chao ôi! Suýt tí nữa là Khổng Tử này trở thành kẻ hồ đồ!”.

Thật đáng để chúng ta “giật mình”. Nhìn thấy tận mắt mà vẫn hoàn toàn trật lất! Cuộc đời xem chừng đơn giản mà lại quá phức tạp, thậm chí là nhiêu khê. Người ta ta cũng vẫn thường nói: “Tưởng vậy mà không phải vậy”. Có những điều suy diễn theo tam đoạn luận, chúng ta thấy rất lô-gích, thế nhưng đôi khi cách kết luận của chúng ta lại hoàn toàn sai.

Quả thật, cuộc sống không hề đơn giản chút nào! Muốn hiểu biết tường tận một vấn đề gì, cần phải là người trong cuộc. Nhiều khi người trong cuộc mà còn “đâu cái điền” chứ nói chi người ngoài cuộc, kẻ bàng quan. Có lẽ vì thế mà chúng ta rất dễ phạm tội “nói hành”.

Thẩm Phán Giêsu cũng đang cảnh cáo và chất vấn lương tâm của mỗi người chúng ta: “Anh em đừng xét đoán, để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán, vì anh em xét đoán thế nào, thì anh em cũng sẽ bị Thiên Chúa xét đoán như vậy; và anh em đong đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong đấu ấy cho anh em. Sao anh thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của mình thì lại không để ý tới? Sao anh lại nói với người anh em: ‘Hãy để tôi lấy cái rác ra khỏi mắt bạn’, trong khi có cả một cái xà trong con mắt anh? Hỡi kẻ đạo đức giả! Lấy cái xà ra khỏi mắt anh trước đã, rồi anh sẽ thấy rõ, để lấy cái rác ra khỏi mắt người anh em” (Mt 7:1-5; Lc 6:37-38, 41-42).

TRẦM THIÊN THU

 

CHỊU ĐAU KHỔ VÌ CÁC LINH HỒN

Lòng Chúa Thương Xót luôn gắn liền với các linh hồn. Ơn Cứu Độ cũng chỉ vì các linh hồn, trong đó có mỗi chúng ta. Ơn Cứu Độ và Lòng Chúa Thương Xót cũng gắn liền với sự đau khổ.

Trong Nhật Ký của Thánh Faustina, danh từ “đau khổ” xuất hiện hơn 450 lần, chắc chắn Thánh Faustina muốn chia sẻ kinh nghiệm về việc chịu đau khổ của Chị khi còn sinh thời.

Chị chịu đau đớn về thể lý vì chứng bệnh nan y bất trị, và trải nghiệm Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu trong thân xác Chị. Chị chịu đau khổ về tinh thần khi Chị trải qua “Đêm Tối của Linh Hồn”. Chị chịu đau khổ về tình cảm vì các nữ tu cùng dòng không tin Chị bị bệnh, cho rằng Chị giả bệnh để trốn việc. Chị chịu đau khổ về tâm trí vì Chị trải nghiệm hiện tượng tâm linh khác thường: Thị kiến về Chúa Giêsu, Đức Mẹ và các thánh. Chúa Giêsu dạy chị truyền bá Lòng Thương Xót cho thế giới, nhưng Chị lại không biết làm cách nào. Chị nghi ngờ chính mình vì không biết mình có bị tâm thần hay không, hoặc không biết mình có trải nghiệm sự bí ẩn tâm linh trong suốt 3 năm hay không. Cuộc đời Chị chịu nhiều đau khổ lắm. Đau khổ là “dấu ấn vàng” của các thánh.

Tháng Cầu Hồn, chúng ta cùng chậm rãi đọc lại vài đoạn quan trọng trong Nhật Ký của Thánh Faustina để suy tư, hy vọng sẽ thêm lợi ích tâm linh cho linh hồn chúng ta, và cũng là dịp để chúng ta chân thành cầu nguyện cho các linh hồn nơi Luyện Hình.

1. Hôm nay, Chúa nói với tôi: “Con cần chịu đau khổ để cứu các linh hồn”. Lạy Chúa Giêsu, xin hãy làm như Ngài muốn. Tôi không đủ can đảm xin Chúa Giêsu chịu đau khổ nhiều hơn, vì tôi đã chịu đau khổ nhiều vào đêm hôm trước đến nỗi tôi không thể chịu được thêm một chút gì mà Chúa Giêsu đã trao cho tôi (Nhật Ký, số 1612).

2. Hôm nay tôi cảm thấy khỏe, tôi vui vì tôi có thể làm Giờ Thánh. Nhưng khi tôi bắt đầu Giờ Thánh, đau đớn thân xác tôi tăng lên, đến nỗi tôi không cầu nguyện được. Khi hết Giờ Thánh, đau đớn của tôi cũng hết, và tôi thưa với Chúa rằng tôi rất muốn dìm mình vào Cuộc Khổ Nạn của Ngài, nhưng đau đớn của tôi không cho phép tôi làm vậy. Chúa Giêsu nói với tôi: “Ái Nữ ơi, con hãy biết rằng nếu Ta cho phép con cảm thấy và và hiểu biết sâu sắc hơn về nỗi đau khổ của Ta, đó là Hồng Ân của Ta. Nhưng khi tâm trí con mờ nhạt và đau khổ của con nhiều, đó là con tham dự vào Cuộc Khổ Nạn của Ta, và Ta làm cho con thích nghi với Ta. Nhiệm vụ của con là tuân phục Thánh Ý của Ta vào những lúc đó, chứ không là những lúc khác” (Nhật Ký, số 1697).

3. Hôm nay, Chúa Giêsu nói với tôi: “Ta muốn con biết sâu sắc hơn về lửa tình yêu bùng cháy trong Thánh Tâm Ta dành cho các linh hồn, và con sẽ hiểu điều này khi con suy niệm về Cuộc Khổ Nạn của Ta. Con hãy xin lòng thương xót của Ta thay cho các tội nhân; Ta muốn cứu độ họ. Khi con thành tín cầu nguyện thay các tội nhân, Ta sẽ ban cho họ ơn hoán cải. Đây là lời cầu nguyện: “Kính lạy Máu và Nước đã tuôn trào từ Thánh Tâm Chúa Giêsu như nguồn mạch thương xót của chúng con, con tín thác vào Ngài (Nhật Ký, số 186-187).

4. Mặc dù đây là những điều gây sợ hãi, linh hồn không nên sợ hãi, vì Thiên Chúa không bao giờ thử thách chúng ta vượt khả năng chịu đau khổ của chúng ta. Mặt khác, có thể Ngài không gởi đến chúng ta các đau khổ như vậy, nhưng tôi viết điều này vì, nếu Chúa muốn một linh hồn trải qua các đau khổ như vậy, linh hồn đó đừng sợ hãi, điều này tùy vào linh hồn đó, nên tin tưởng vào Thiên Chúa. Ngài không làm tổn thương linh hồn, vì chính Ngài là Tình Yêu, và tình yêu khôn dò này mời gọi linh hồn đó bước vào tình yêu. Tuy nhiên, khi tôi đau khổ, tôi lại không hiểu điều này (Nhật Ký, số 106).

5. Thiên Chúa cho tôi biết tình yêu đích thực bao gồm những gì và soi sáng cho tôi biết cách minh chứng tình yêu dành cho Ngài. Tình yêu đích thực của Thiên Chúa bao gồm việc thực hiện Ý Chúa. Để chứng tỏ cho Thiên Chúa biết tình yêu của chúng ta trong những gì chúng ta làm, trong mọi động thái, chúng ta phải bắt nguồn từ tình yêu Chúa. Chúa nói với tôi: “Này con, con làm Ta vui lòng bằng cách chịu đau khổ. Ái Nữ của Ta, qua đau khổ tinh thần và thể lý của con, đừng mong sự cảm thông của người khác. Ta muốn hương thơm từ đau khổ của con tinh tuyền và thuần khiết. Ta muốn con tách biệt, không chỉ tách khỏi các thụ tạo, mà còn tách khỏi chính con. Ái Nữ của Ta, Ta muốn vui mừng trong tình yêu nơi trái tim con, một tình yêu tinh tuyền, thuần khiết, không vết nhơ, không hoen ố. Con càng muốn đau khổ, tình yêu của con càng tinh tuyền dành cho Ta” (Nhật Ký, số 279).

6. Khi tôi bệnh [có thể bắt đầu chứng lao] sau khi tiên khấn, mặc dù Bề trên an ủi và bác sĩ tận tình chăm sóc, tôi vẫn cảm thấy bình thường, không tệ hơn cũng chẳng khá hơn, tôi bắt đầu hiểu rằng tôi đang giả vờ. Với điều đó, đau khổ của tôi tăng gấp đôi, và điều này kéo dài khá lâu. Một hôm, tôi thưa với Chúa Giêsu rằng tôi đang là gánh nặng cho các chị em. Chúa Giêsu nói với tôi: Con không sống cho con mà sống cho các linh hồn, và các linh hồn khác sẽ có lợi nhờ đau khổ của con. Đau khổ lâu dài của con sẽ cho họ ánh sáng và sức mạnh để chấp nhận Thánh Ý của Ta” (Nhật Ký, số 67).

Thánh Faustina được Chúa Giêsu giải thích rằng Ngài cần đau khổ của Chị để giúp Ngài “cứu các linh hồn” (Nhật Ký, số 1612). Thánh Phaolô cho chúng ta biết rằng đau khổ xảy ra để chúng ta không ỷ lại vào mình mà biết cậy nhờ Thiên Chúa, Đấng làm cho kẻ chết trỗi dậy (x. 2 Cr 1:9). Đau khổ của chúng ta có thể cứu các linh hồn nếu chúng ta dâng đau khổ đó lên Thiên Chúa. Đó là vì Đức Ái và Đức Tin mà chúng ta chịu đau khổ để cứu các linh hồn, và Thiên Chúa vui nhận động thái đó.
Thánh Inhaxio Loyola nói: “Nếu Thiên Chúa gởi nhiều đau khổ cho chúng ta, đó là dấu hiệu Ngài có kế hoạch lớn dành cho chúng ta và chắc chắn Ngài muốn làm cho bạn nên thánh”. Thánh Gioan Thánh Giá nói: “Đau khổ là con đường hẹp, qua con đường này mới vào được Thiên Đàng. Thập giá là “cây gậy” để chúng ta chống đi trên con đường hẹp và gồ ghề. Ai muốn đi đường rộng thênh thang thì dễ lạc đường”. Thật vậy, Thiên Chúa tin tưởng bạn nên mới trao đau khổ cho bạn, và Ngài muốn làm cho bạn yêu mến Ngài hết lòng hết sức.

Thánh Teresa Avila nói: “Người ta không được nghĩ rằng chịu đau khổ không là cầu nguyện. Khi dâng đau khổ lên Thiên Chúa, người ta cầu nguyện nhiều lần hơn là suy niệm, nếu người đó bật khóc, đó là cầu nguyện”. Thánh Aloysio Gonzaga nói: “Ai muốn yêu mến Chúa mà không muốn chịu đau khổ vì Ngài thì không yêu mến Ngài”. Và Thánh Phanxico Xavie nói: “Tất cả khoa học của các thánh bao gồm hai điều: Hành động và chịu đau khổ. Ai làm tốt hai điều này thì tự làm cho mình nên thánh”.

Đau khổ là một lời hứa của Thiên Chúa, Đấng trung tín và giữ lời hứa. Thánh Phêrô nói: “Chúa không chậm trễ thực hiện lời hứa, như có kẻ cho là Người chậm trễ. Kỳ thực, Người kiên nhẫn đối với anh em, vì Người không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người đi tới chỗ ăn năn hối cải” (2 Pr 3:9).

Đau khổ là cách Thiên Chúa thỏa mãn ước vọng của chúng ta. Thánh Phaolô nói: “Thiên Chúa của tôi sẽ thoả mãn mọi nhu cầu của anh em một cách tuyệt vời, theo sự giàu sang của Người trong Đức Kitô Giêsu. Xin tôn vinh Thiên Chúa là Cha chúng ta, đến muôn thuở muôn đời! Amen” (Pl 4:19-20).

Đau khổ là mầu nhiệm, phải có can đảm mới có thể hiểu và chấp nhận đau khổ. Đau khổ là thua thiệt, thập giá là điên rồ, tư tưởng phàm nhân không thể hiểu nổi, nhưng với Thiên Chúa lại khác hẳn: “Điều cao trọng đối với người đời lại là điều ghê tởm trước mặt Thiên Chúa” (Lc 16:15).

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp con can đảm chịu đau khổ để hiệp thông với Ngài, để cứu các linh hồn, và để đền tội của con. Vì Máu và Nước từ Thánh Tâm Ngài, xin tẩy rửa và cho các linh hồn được sớm hưởng Tôn Nhan Thiên Chúa. Xin cho con cũng được ở nơi nào có Ngài. Vâng, Ngài là Đấng cứu độ của con, Ngài hằng sinh và hiển trị cùng với Thiên Chúa Cha, hiệp nhất với Thiên Chúa Thánh Thần, đến muôn đời. Amen.

TRẦM THIÊN THU
Mùa Đại Xá, tháng 11-2014

 

Cơ hội được cứu độ

Tháng Mười Một lại về. Tháng Mười Một nhắc nhở chúng ta về thân phận con người. Thời điểm cuối năm. Cuối năm nhắc nhở chúng ta về cuối đời, vì sớm muộn gì thì chúng ta cũng… chết. Đó là điều chắc chắn, thật hơn cả sự thật. Lúc chết là lúc tận thế của riêng cuộc đời mình.

Nhưng liệu chúng ta có mấy cơ hội được cứu độ? Kinh thánh nói rõ rằng chết là chấm dứt mọi cơ hội: “Phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét (Dt 9:27). Thánh Phaolô nói quá rõ ràng, không hề mơ hồ chút nào. Và chắc chắn ai cũng chỉ một lần chết. Hai năm rõ mười. Trắng đen rạch ròi.

Chết là hết cơ hội “làm lại cuộc đời”. Hối hận muộn màng. Nhưng khi còn sống thì chúng ta có nhiều cơ hội được cứu độ, không chỉ lần hai, lần ba, lần bốn,… mà thậm chí là lũy thừa n lần, nếu biết chân nhận Đức Kitô là Thiên Chúa: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai TIN vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16). “Được sống muôn đời” nghĩa là “được cứu độ”. Còn Thánh Phaolô nói: “Nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa, và lòng bạn TIN rằng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết thì bạn sẽ ĐƯỢC CỨU ĐỘ. Quả thế, có TIN thật trong lòng mới ĐƯỢC NÊN CÔNG CHÍNH; có xưng ra ngoài miệng, mới ĐƯỢC ƠN CỨU ĐỘ” (Rm 10:9-10).

Sách Công vụ kể chuyện viên cai ngục hỏi ông Phaolô và ông Xila: “Thưa các ngài, tôi phải làm gì để ĐƯỢC CỨU ĐỘ?” (Cv 16:30), hai ông nói ngay: “Hãy TIN vào Chúa Giêsu, ông và cả nhà sẽ ĐƯỢC CỨU ĐỘ” (Cv 16:31). Rõ ràng TIN thì phải TIN trước, chứ khi chết rồi thì chẳng còn cơ hội nào khác để tin. May mắn thì vào Luyện Hình (Luyện Ngục). Truyền thống Công giáo tin rằng Luyện Hình là nơi người ta vào để thanh luyện, để đền tội mình, và chắc chắn rồi sẽ có lúc được vào Thiên Đàng để hưởng Phúc Trường Sinh.

Để giúp chúng ta hiểu được điều gì xảy ra sau khi chết đối với những người không tin, sách Khải Huyền cho biết: “Bấy giờ tôi thấy một ngai lớn màu trắng và thấy Đấng ngự trên đó. Đất và trời biến mất trước mặt Người, không để lại dấu vết. Rồi tôi thấy những người chết, lớn cũng như nhỏ, đứng trước ngai. Sổ sách đã mở sẵn; rồi một cuốn khác cũng đã mở ra: đó là Sổ Trường Sinh. Các người chết được xét xử tuỳ theo việc họ đã làm, chiếu theo những gì đã được ghi chép trong sổ sách. Biển trả lại những người chết nó đang giữ; Tử thần và Âm phủ trả lại những người chết chúng đang giữ, và mỗi người chịu xét xử tuỳ theo các việc đã làm. Tử thần và Âm phủ bị quăng vào hồ lửa. Hồ lửa này là cái chết thứ hai. Ai không có tên ghi trong Sổ trường sinh thì bị quăng vào hồ lửa” (Kh 20:11-15). Điều xảy ra là “người chết bị xét xử theo những gì họ đã làm khi còn sinh thời”.

Thánh Phaolô cho biết: “Trước nhan Chúa, không người phàm nào được nhìn nhận là công chính vì đã làm những gì Luật dạy. Luật chẳng qua chỉ làm cho người ta ý thức về tội” (Rm 3:20), nghĩa là Luật giúp người ta nên công chính, nhưng “người ta được nên công chính vì tin, chứ không phải vì làm những gì Luật dạy” (Rm 3:28). Tác giả Thánh vịnh xác định: “Ôi lạy Chúa, nếu như Ngài chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng? Nhưng Chúa vẫn rộng lòng tha thứ để chúng con biết kính sợ Ngài” (Tv 130:3-4). Thật vậy, ngay cả việc chúng ta ca tụng Chúa cũng chẳng thêm gì cho Chúa nhưng lại sinh ích lợi cho chính chúng ta. Những người bị xét xử theo công việc và tư tưởng thì bị “án chung thân” nơi Hỏa Ngục. Nhưng những người TIN VÀO ĐỨC KITÔ lại không bị xét xử theo “sổ sách” ghi các hành động của mình, mà tên tuổi họ được ghi trong một cuốn khác, đó là “Sổ Trường Sinh của Con Chiên” (Kh 21:27). Đó là những người đã TIN VÀO ĐỨC KITÔ, và chỉ những người này mới được vào Nước Trời – nghĩa là ĐƯỢC CỨU ĐỘ.

Vấn đề để hiểu điều này là Sổ Trường Sinh. Bất kỳ ai được ghi tên vào Sổ đó thì “đã được chọn từ trước khi tạo thành vũ trụ” (Ep 1:4) vì Ơn Cứu Độ của Chúa là một phần của Giáo hội Đức Kitô. Chính Ngài đã chọn chúng ta, đã cứu thoát chúng ta, và sẽ cứu độ chúng ta: “Không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa” (Rm 8:39). Chúa Giêsu tuyên bố: “Những người Chúa Cha ban cho tôi đều sẽ đến với tôi, và ai đến với tôi, tôi sẽ không loại ra ngoài” (Ga 6:37), và “tất cả những người Chúa Cha ban cho tôi đều sẽ đến với tôi, và ai đến với tôi, tôi sẽ không loại ra ngoài” (Ga 10:28). Đối với những người tin, không cần cơ hội thứ hai vì một cơ hội cũng là đủ.

Còn những người không tin? Họ không ăn năn và không tin thì họ có cơ hội nào khác? Chắc chắn là KHÔNG, vì trái tim họ đã xơ cứng, họ không còn cơ hội thay đổi vì họ đã chết. Tâm trí họ “đối nghịch” với Thiên Chúa và không chấp nhận Ngài ngay cả khi trực diện. Thánh sử Luca kể chuyện một người giàu và Ladarô. Người giàu nói với ông Ápraham: “Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh Ladarô đến nhà cha con, vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này” (Lc 16:27-28). Ápraham nói: “Chúng đã có Môsê và các Ngôn Sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó” (Lc 16:29). Người giàu năn nỉ: “Thưa tổ phụ Ápraham, họ không chịu nghe đâu, nhưng nếu có người từ cõi chết đến với họ, thì họ sẽ ăn năn sám hối” (Lc 16:30). Ông Ápraham phân tích: “Môsê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin” (Lc 16:31).

Trái tim xơ cứng vì cố chấp. Mà cố chấp là phạm tới Chúa Thánh Thần: “Ai nói phạm đến Con Người thì được tha; nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần sẽ chẳng được tha, cả đời này lẫn đời sau” (Mt 12:32).

Nhưng dù ai ở đâu thì vẫn phải quy phục Thiên Chúa. Thánh Phaolô nói rõ: “Khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Chúa” (Pl 2:10-11).
Chẳng chóng thì chày, rồi mọi người sẽ phải bái thờ Đức Giêsu mà chân nhận Ngài là Thiên Chúa và Đấng Cứu Thế. Nhưng đợi đế lúc đó thì đã quá trễ, không thể được cứu độ nữa. Sau khi chết, ai cũng bị phán xét: “Tử thần và Âm phủ bị quăng vào hồ lửa. Hồ lửa này là cái chết thứ hai. Ai không có tên ghi trong Sổ trường sinh thì bị quăng vào hồ lửa” (Kh 20:14-15). Dù với ý khác, khi nói về những người đã chết rồi còn bị trái pháo làm tan xương nát thịt trong chiến tranh, nhưng cố NS Trịnh Công Sơn cũng có cách nói tương tự: “Người chết hai lần, thịt da nát tan…”.

Đó là lý do mà chúng ta phải TIN vào Đức Kitô, và phải TÍN THÁC vào Lòng Chúa Thương Xót, TIN nghĩa là ĐỪNG BAO GIỜ TUYỆT VỌNG dù có đôi lúc chúng ta cảm thấy thất vọng, có vậy mới khả dĩ ĐƯỢC CỨU ĐỘ.

Tháng Mười Một về, rồi Tháng Mười Một lại đi. Chu kỳ thời gian là thế. Lá vàng rụng đã đành, lá xanh cũng có thể rụng bất kỳ lúc nào. Người trước, kẻ sau; nay người, mai ta. Lẽ tất nhiên muôn thuở. Mong sao chúng ta khả dĩ làm cho Tháng Mười Một sinh nhiều ích lợi cho các linh hồn, và cho chính chúng ta!

Lạy Thiên Chúa, xin ban lại cho chúng con niềm vui vì được Ngài cứu độ, và lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng chúng con (Tv 51:14). Xin thương xót chúng con, và xin thương cứu các linh hồn. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU


NHỚ CỘI NGUỒN

Tháng Mười Một là tháng “Nhớ Cội Nguồn”, tháng biết ơn tiền nhân. Cây có cội, nước có nguồn. Kinh Thánh dạy: “Hãy thảo kính cha mẹ” (Hc 3:1-16). Đó là giới răn thứ tư trong Mười Điều Răn mà Đức Chúa đã ban truyền qua ông Môsê trên núi Sinai (Xh 20:3-17).

Giọt nước nào cũng phải có nguồn, có nơi phát xuất. Giọt mưa rơi xuống từ trời. Dù chỉ là giọt nước máy thì cũng phải chảy ra từ chiếc vòi, thậm chí từ chiếc bình. Con người cũng vậy, ai cũng phải có tổ tiên, có cha có mẹ. Đừng “vô tư” như NS Trịnh Công Sơn mà thản nhiên nói: “Tôi vui chơi giữa đời (ối a), biết đâu nguồn cội” (ca khúc Biết Đâu Nguồn Cội).

Tục ngữ Việt Nam nhắc nhở: “Uống nước nhớ nguồn”. Những từ ngữ rất giản dị, mộc mạc, nhưng lại chuyển tải cả một đạo lý làm con đối với song thân phụ mẫu, những người đã sinh dưỡng chúng ta. Có nhiều ca khúc viết về mẹ, như bài “Lòng Mẹ” của cố NS Y Vân, nhưng lại hiếm bài viết về cha – có lẽ cha thâm trầm nên người ta khó “cảm” hơn. Vả lại, công mẹ rất “lớn” với 9 đức cù lao: Sinh, Cúc, Phủ, Dục, Súc, Trưởng, Cố, Phục, Phúc (sinh nở, nâng đỡ, vỗ về, dạy dỗ, cho bú, nuôi lớn, trông nom, chăm sóc, che chở).

Tháng Mười Một mệnh danh là Tháng Cầu Hồn vì Giáo hội dành riêng để chúng ta cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời, trong đó có những người thân của chúng ta: Tổ tiên, ông bà, cha mẹ, kể cả anh chị em hoặc cháu chắt của chúng ta. Tất nhiên trong đó cũng có cả những bạn bè, người quen,... Nói chung, chúng ta nhớ tới mọi người đã “ra đi” trước chúng ta, họ “đi” trước là họ đã “lớn” hơn chúng ta rồi, vì họ vào cõi vĩnh hằng trước chúng ta, dù họ có thể tuổi đời của họ còn ít hơn tuổi đời của chúng ta.

Khi nói đến việc nhớ ơn, người ta thường nghĩ ngay tới những người gần gũi nhất và trực tiếp nhất đối với chúng ta: Cha Mẹ. Nói cho văn hoa và trang trọng, đó là Song Thân Phụ Mẫu. Người ta có thể chọn nhiều thứ nhưng không thể chọn cha mẹ (và tiền nhân, ông bà). Thiên Chúa đã đặt chúng ta là con cháu của các ngài. Chúng ta có trách nhiệm phải “thờ cúng tổ tiên”, Kinh Thánh cho biết: “Ai thờ cha thì bù đắp lỗi lầm, ai kính mẹ thì tích trữ kho báu. Ai thờ cha sẽ được vui mừng vì con cái, khi cầu nguyện, họ sẽ được lắng nghe. Ai tôn vinh cha sẽ được trường thọ, ai vâng lệnh Đức Chúa sẽ làm cho mẹ an lòng” (Hc 3:3-6).

Có một ca khúc thể hiện cả công cha và nghĩa mẹ là bài “Ơn Nghĩa Sinh Thành” của cố NS Dương Thiệu Tước (*). Ca khúc này được lồng trong tiết tấu chậm với nhịp 4/4, âm thể Rê trưởng (D), giai điệu mượt mà và đầy cảm xúc. Tiết tấu chậm khiến người ta lắng lòng xuống để trầm tư, nhưng không buồn mà vẫn “sáng” trong âm thể Rê trưởng.

Ca từ thật đẹp và đầy tính giáo dục được rút ra từ ca dao tục ngữ phổ biến: “Uống nước nhớ nguồn, làm con phải hiếu. Em ơi, hãy nhớ năm xưa, những ngày còn thơ, công ai nuôi dưỡng”. Ai cũng được cha mẹ sinh ra và nhờ công lao dưỡng dục vô kể của cha mẹ. Công lao đó được đúc kết trong 9 chữ, gọi là 9 đức cù lao: Sinh (đẻ), Cúc (nâng đỡ), Phủ (ấp ủ, vỗ về), Súc (bú mớm, cho ăn), Trưởng (nuôi cho lớn khôn), Dục (dạy dỗ), Cố (trông nom), Phục (săn sóc, theo dõi), Phúc (bao bọc, chở che).

Câu tiếp theo là lời khuyên răn và nhắc nhở bổn phận làm con: “Công đức sinh thành, người hỡi đừng quên. Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Những lời chân chất, không có gì bóng gió, thế nên không hề khó hiểu.

NS Dương Thiệu Tước phân tích thêm: “Người ơi, làm người ở trên đời, nhớ công người sinh dưỡng, đó mới là hiền nhân. Vì đâu, anh nên người tài ba? Hãy nhớ công sinh thành, vì ai mà có ta?”. Cách hỏi nhẹ nhàng mà như “xoáy” vào tận đáy lòng. Thật vậy, chúng ta có thành nhân và thành công thì cũng đều nhờ công lao của cha mẹ.

Rất nhiều sinh viên đi học xa nhà, được no cơm ấm áo, nhưng cha mẹ ở nhà phải hy sinh trăm bề, có khi cả chỗ nằm ngủ cũng không được tươm tất, mưa tạt gió thổi, thế mà khi nên danh phận, có một số người lại phủi tay, cho rằng mình giỏi giang và văn minh, rồi chê cha mẹ “cổ hủ”, thậm chí họ còn không muốn nhận cha mẹ mình trước mặt người khác. Thất đáng xấu hổ. Buồn thay!

Câu cuối vẫn là lời nhắc nhở, rạch ròi hơn: “Uống nước nhớ nguồn, làm con phải hiếu. Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Cánh-diều-con bay lên là nhờ dây-cha-mẹ, diều-con càng cao vút thì dây-cha-mẹ càng thêm sức nặng của gió. Đừng bao giờ lãng quên, người ơi!

Trong “Kinh Thi” (tập sách ghi nhận có những câu ca dao cổ của người Trung Quốc) có hai câu với ý nghĩa tương tự. Một câu mô tả cụ thể ơn đức của cha mẹ: “Phụ hề sinh ngã, mẫu hề cúc ngã, phủ ngã, xúc ngã, trưởng ngã, dục ngã, cố ngã, phục ngã, xuất nhập phúc ngã. Dục báo chi đức, hạo thiên võng cực” (Cha sinh ra ta, mẹ nâng đỡ ta, vuốt ve ta, cho ta bú, nuôi ta khôn lớn, dạy bảo ta nên người, chăm lo ta, ôm ấp ta, ra vào để bảo vệ ta. Muốn đáp trả ơn huệ ấy, chỉ biết như bầu trời lồng lộng đến vô cùng).

Một câu khác mang tính tượng hình, nêu lên khát khao báo đáp của người con: “Phụ hề sinh ngã, mẫu hề cúc ngã. Ai ai phụ mẫu, sinh ngã cù lao. Dục báo thâm ân, hạo thiên võng cực” (Cha sinh ta, mẹ nâng đỡ ta. Thương thay cha mẹ, sinh ra ta bao khó nhọc. Muốn đáp trả ơn sâu ấy, chỉ biết như bầu trời lồng lộng đến vô cùng).

Công ơn cha mẹ thật lớn lao, cao vời khôn ví, ca dao Việt Nam chỉ mang tính tương đối, vì con người chỉ có thể ví như thế mà thôi:

Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Nhưng vấn đề quan trọng không phải ví von cho vui, nói bằng đầu môi chót lưỡi, mà vấn đề phải là:

Một lòng thờ kính mẹ cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

Thánh Phaolô nói về các đức đối nhân, và cũng là điều mà con cái phải đối xử với cha mẹ trước tiên: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín (1 Cr 13:1-13).

Thánh sử Luca cho biết: Sau ba ngày lạc mất Con Trẻ, Cô Maria và Chú Giuse mới tìm thấy con trong Đền Thờ, đang ngồi giữa các thầy dạy, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi. Ai nghe cậu nói cũng ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đối đáp của cậu. Khi thấy con, hai ông bà sửng sốt, và mẹ Người nói với Người: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!” (Lc 2:48). Cậu Giêsu đáp: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” (Lc 2:49).

Chúa Giêsu thông minh, siêu phàm, nhưng Ngài vẫn “đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Nadarét và hằng vâng phục các ngài” (Lc 2:51). Ngài có hiếu với cha mẹ, vâng lời cha mẹ, chúng ta không thể không noi gương Ngài. Nếu không thì “không ổn” đâu! Vì ông Môsê đã dạy: “Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, và kẻ nào nguyền rủa cha mẹ thì phải bị xử tử!” (Mc 7:10). Kinh Thánh đã có những lời rất rạch ròi!

Lạy Thiên Chúa giàu lòng thương xót, xin giải thoát tổ tiên của chúng con, đặc biệt là ông bà, cha mẹ của chúng con, những người đã vất vả vâng lời Chúa mà sinh dưỡng chúng con. Chúng con cầu xin nhờ Công Nghiệp của Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

(*) NS Dương Thiệu Tước (1915–1995) là một nhạc sĩ tiền chiến nổi tiếng và được coi là một trong những nhạc sĩ tiền phong của nền tân nhạc Việt Nam. Ông sinh ngày 15-5-1915 tại làng Vân Đình, huyện Sơn Lãng, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Ông xuất thân từ gia đình Nho học truyền thống, là cháu nội cụ nghè Vân Đình Dương Khuê, nguyên Đốc học Nam Định.

Thập niên 1930, ông gia nhập nhóm nghệ sĩ tài tử Myosotis (Hoa Lưu Ly) gồm các nhạc sĩ Thẩm Oánh, Lê Yên, Vũ Khánh,... Ông có sáng kiến “soạn nhạc Tây theo điệu ta”, các nhạc phẩm hồi đầu của ông thường được viết bằng tiếng Pháp. Dù học nhạc Tây nhưng nhạc của ông vẫn đượm hồn dân tộc. Trong một ấn phẩm viết tay, ông ngỏ ý: “Theo tôi, tân nhạc Việt Nam phải thể hiện rõ cá tính Việt Nam. Để đạt được điều này, người sáng tác phải hiểu rõ nhạc Việt qua cách học nhạc cụ cổ truyền cũng như hát được các làn điệu cổ truyền”.  Ông vào Nam sống từ 1954. Tại Saigon, ông làm chủ sự phòng văn nghệ tại Đài phát thanh Saigon, đồng thời được mời dạy lục huyền cầm (Tây ban cầm, Guitar) tại trường Quốc gia Âm nhạc (ngày nay là Nhạc Viện trên đường Nguyễn Du, quận 1, Saigon).

Vợ cả và cũng là chính thất của ông là bà Lương Thị Thuần, hiện con cái sống tại Đức và Hoa Kỳ. Vợ sau của ông là Minh Trang, một ca sĩ nổi tiếng hồi thập niên 1950, có con riêng là ca sĩ Quỳnh Giao. Đầu thập niên 1980, ông về chung sống với bà Nguyễn Thị Nga tại Bình Thạnh (Saigon) và được bà chăm lo cho tuổi về chiều. Ông mất ngày 1-8-1995 tại Saigon. Các ca khúc tiêu biểu của ông: Bóng Chiều Xưa, Cánh Bằng Lướt Gió, Chiều (thơ Hồ Dzếnh), Dưới Nắng Hồng, Đêm Ngắn Tình Dài, Đêm Tàn Bến Ngự, Hờn Sóng Gió, Khúc Nhạc Dưới Trăng, Kiếp Hoa, Ngọc Lan, Ôi Quê Hương, Sóng Lòng, Tiếng Xưa, Uống Nước Nhớ Nguồn (viết chung với NS Hùng Lân),…

Thưởng thức ca khúc “Ơn Nghĩa Sinh Thành” tại đây:

http://www.youtube.com/watch?v=glWZnA313H8


LẤY LẠI NIỀM TIN

Trong cuộc sống đời thường, đôi khi bạn phải đối đầu với những tình huống khó khăn, bạn tưởng như tuyệt vọng, thậm chí có nguy cơ mất cả niềm tin. Bạn cảm thấy như cuộc đời “chấm hết”. Tuy nhiên, hãy nhớ kỹ rằng niềm tin cần phải hy vọng mới có được, dù chúng ta không thể chứng minh.

Cũng rất quan trọng để nhớ rằng có sức mạnh đang hành động vì bạn, ngay cả khi bạn không hề biết. Nhưng khi bạn biết tin tưởng, dù trong tình huống nào, bạn sẽ biết rằng niềm tin vẫn nguyên vẹn. Bạn phải kiên trì. Bạn phải quyết tâm tin tưởng.
Khi bạn thấy giảm sút hoặc mất niềm tin, hãy áp dụng 4 cách này để lấy lại niềm tin:

1. BIẾT ƠN
Hãy nhìn vào mọi người trong cộng đồng. Trông lên chẳng bằng ai, trông xuống thấy mình chưa “đến nỗi nào”, có những người vẫn chịu thiếu thốn những điều cơ bản cần cho sự sống như thực phẩm, chỗ ở, việc làm, tài chính,... Những người vô gia cư không bằng một nửa may mắn của bạn. Những người tha phương cầu thực, ăn nhờ, ở trọ, họ mong được một phần cuộc sống của bạn mà không được. Hãy đánh giá cao những ơn lành nhỏ bé hằng ngày để duy trì niềm tin.

3. ĐỐI THOẠI
Hãy tâm sự chia sẻ với người đồng cảnh ngộ, tức là những người đang khủng hoảng niềm tin như bạn. Điều này có thể giúp bạn nhận thức về tình trạng của bạn. Họ có thể giúp bạn tái xây dựng niềm tin bằng cách đưa ra những lời khuyên hữu ích. Người ngoài cuộc luôn sáng suốt hơn người trong cuộc.

4. HỒI TƯỞNG
Hãy nghĩ lại những lúc mà bạn đã gặp khó khăn, và tự vấn: Tôi đã thoát khỏi tình trạng đó bằng cách nào? Bạn cần niềm tin và bạn đã dùng chính niềm tin để vượt qua. Đó là lòng tự tin, dù bạn nhận ra hay không nhận ra điều đó. Có niềm tin để tự tin trong cuộc sống.

5. MẠNH MẼ
Hãy nhìn vào những gì bạn có. Hằng ngày có đầy niềm hy vọng và sự hứa hẹn. Hãy tin rằng mọi thứ đang tác động với nhau để bạn có điều tốt lành. Hãy tin vào chính mình và biết rằng bạn có thể làm mọi thứ. Hãy vững tin: Cái gì không phá vỡ tôi thì nó sẽ tạo nên tôi. Đó là niềm hy vọng, là niềm tin, là tự tin. Hãy mạnh mẽ lên!

VIỄN DZU TỬ

 

YÊU NHAU KIẾP NÀO ?

Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu nói: “Tin tưởng và chỉ có tin tưởng mới dẫn chúng ta tới tình yêu”. Vâng tình yêu rất quan trọng. Chúa Giêsu là Thiên Chúa Ngôi hai, Ngài cũng chỉ vì tình yêu mà giáng sinh làm người và chết vì lũ tội nhân chúng ta. Ngài căn dặn: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13:34). Và Ngài gọi đó là Điều Răn Mới.

Tình yêu là biết chạnh lòng thương, là lòng trắc ẩn, là lòng thương xót, là đức mến hoặc đức ái, quan trọng cả đời này và đời sau. Thánh Margaret Mary Alacoque nói: Hãy yêu mến Chúa bằng cả sức lực, hãy luôn nghĩ về Ngài, hãy để Ngài hành động trong bạn, với bạn và cho bạn, theo ý Ngài muốn, đừng lo lắng về điều gì khác”. Còn Thánh tiến sĩ Thomas Aquinas nói: Hãy để mọi người chăm sóc những gì thuộc về họ, và đừng phiền lòng về những gì người ta nói hoặc làm trên thế gian này”. Tình yêu đơn giản mà nhiêu khê, nhỏ bé mà vĩ đại, trừu tượng mà cụ thể.

Trong nhạc phẩm “Kiếp Nào Có yêu Nhau” (nhạc Phạm Duy, thơ Hoài Trinh), có câu: “Đừng nhìn em nữa, anh ơi! Hoa xanh đã phai rồi, hương trinh đã tan rồi. Đừng nhìn em, đừng nhìn em nữa, anh ơi! Đôi mi đã buông xuôi, môi răn đã quên cười. Hẳn người thôi đã quên ta!...”. Thật là da diết và trĩu buồn khi nghe người ta hẹn nhau thế này: “Kiếp nào có yêu nhau, thì xin hẹn đến mai sau...”. Lời hẹn xa vời vậy ư? Tại sao không thể yêu nhau kiếp này? Ở đây chúng ta hiểu nghĩa yêu thương theo diện rộng chứ không hạn chế trong “khuôn khổ” của tình yêu giới tính, và được hiểu theo tinh thần Kitô giáo.

Tháng Cầu Hồn nhắc chúng ta nhớ tới những người đã qua đời, tức là nhắc chúng ta về tình yêu thương, không chỉ với người đã khuất mà còn với những người còn sống với chúng ta. Nhìn thấy nhau hàng ngày còn không nhớ thương nhau thì mong gì khi đã khuất bóng xa mờ!

Thật vậy, người Việt vẫn thường nói: “Lúc sống thì chẳng cho ăn, đến khi đã chết làm văn tế ruồi”. Sống thì coi nhau như kẻ thù, chết thì khóc thét. Để làm gì? Vô ích! Có chăng chỉ là “che mắt” thế gian. Giả hình! Đúng là “được thương thì xương không còn”. Phũ phàng quá! Vì thế, một danh nhân đã nói: “Hãy sống như mình sắp chết, và hãy hành động như mình bất tử”. Nghĩ về cái chết là tư tưởng người ta cho là bi quan, yếm thế, nhưng không phải vậy, vì lá vàng hay lá xanh cũng vẫn có thể rụng bất cứ lúc nào. Đôi khi lá vàng lại phải khóc lá xanh đấy thôi! Thiết tưởng, ai biết nghĩ đến cái chết là người khôn ngoan và sống tích cực, vì khi nghĩ đến cái chết, người ta khả dĩ trưởng thành tâm linh hơn, và nhờ đó mà người ta cũng biết sống yêu thương hơn.

Nhà sinh tử học Elisabeth Kübler-Ross (1926-2004, Hoa Kỳ) nói: “Nếu bạn có thể coi cái chết là người bạn vô hình thân thiết trên lộ trình sự sống của bạn, nó sẽ nhắc nhở bạn một cách ôn hòa, không nên chờ đến ngày mai mới bắt tay làm những việc mà bạn phải làm thì bạn sẽ học được cách sống đúng với ý nghĩa cuộc sống mà bạn đang có, chứ không sống dật dờ cho qua ngày đoạn tháng”. Còn triết gia Heidegger (1889-1976, Đức) nói: “Chính sự giao thiệp với cái chết của chính mình như là giới hạn tuyệt đối nên con người càng thấy rõ ý nghĩa và tính cấp thiết đích thực của việc làm người”.

Steve Jobs (1955-2011, đồng sáng lập tập đoàn Apple) luôn biết tự cảnh giác: “Hãy nhớ rằng bạn sẽ phải chết là cách tốt nhất để có thể tránh được cạm bẫy của ý tưởng rằng bạn có cái gì đó để mất”. Ông còn nói câu độc đáo này: “Cái chết là phá minh vĩ đại nhất của sự sống. Nó là tác nhân làm thay đổi cuộc sống, nó xóa cái cũ để mở đường cho cái mới”. Triết lý cao siêu quá!

Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ nói: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng”. Thế nhưng đó cũng mới là lý thuyết, là khát vọng, thực tế chưa được thể hiện đúng mức. Chỉ có cái chết mới là sự bình đẳng đích thực và tuyệt đối. Vì mọi người chắc chắn sẽ chết, dù người có quyền cao chức trọng, tiền muôn bạc vạn, hoặc người nghèo rớt mồng tơi, tất cả đều ra đi với hai bàn tay trắng. Dân gian Việt Nam diễn tả sự bình đẳng đó qua bốn câu lục bát:

Vua Ngô băm sáu tàng vàng
Chết xuống âm phủ chẳng mang được gì!
Chúa Chổm uống rượu tì tì
Chết xuống âm phủ kém gì vua Ngô?

Nhắm mắt. Xuôi tay. Tắt thở. Chẳng ai hơn ai. Cũng vẫn con người đó, sống thì gọi là người”, chết thì gọi là “ma”. Nghe lạ mà không lạ chút nào, bởi vì người ta vẫn gọi là “đám ma” chứ có ai nói là “đám người” đâu nào! Kiếp này có liên quan kiếp sau, không phải là “kiếp sau” theo “vòng luân hồi” hoặc “luật nhân quả”, mà là theo ý nghĩa của Kitô giáo. Trong Truyện Kiều, câu 2997-2998, cụ thi hào Nguyễn Du nhận định:

Rõ ràng hoa rụng hương bay
Kiếp sau họa thấy kiếp này hẳn thôi

Cuộc Phán Xét Chung (Mt 25:31-46) cho thấy “mối liên quan” giữa kiếp này và kiếp sau, đúng là “kiếp sau họa thấy kiếp này hẳn thôi”. Tư tưởng của cụ Nguyễn Du vẫn phù hợp với chúng ta đấy!
Con người luôn trăn trở về thân phận của mình. Không chỉ là băn khoăn về sự chết, mà ngay cả những lúc đêm đen buông xuống, không gian tĩnh mịch, người ta không thể không trầm tư suy nghĩ. Có mấy vần thơ khuyết danh trăn trở về con người như thế này:

Trăm năm một giấc mộng dài
Bàng hoàng tỉnh dậy là ai hay mình?
Là mình sao chẳng giống mình
Là ai sao lại chính mình nằm đây!

Càng trăn trở, càng băn khoăn, càng thắc mắc, càng tìm hiểu, nhưng con người vẫn chẳng có ai thoát khỏi cái vòng lẩn quẩn của cuộc đời này. Yêu thương là chìa khóa vạn năng, chỉ có “chìa khóa” này mới mở được mọi cánh cửa, kể cả Cửa Thiên Đàng.

Yêu thương được Chúa Giêsu phác họa thành Cây Thánh Giá. Thánh Gioan Kim Ngôn có bí quyết giúp chúng ta sống yêu thương ở đời này: “Cây Thánh Giá là hy vọng của Kitô hữu, là sự sống lại của kẻ chết, là sự hướng dẫn cho kẻ mù, là cây gậy cho người què, là sự an ủi cho kẻ nghèo khổ, là sự kềm hãm của kẻ giàu sang, là sự hành hạ đối với kẻ xấu xa, là sự chiến thắng vượt trên ma quỷ, là người chỉ đạo cho thanh niên, là bánh lái cho người vượt sóng, là cửa biển cho người đi xa, là thành lũy cho người bị vây hãm”.

Yêu thương thì phải từ bỏ mình và vác thập giá. Đó là điều không dễ. Thế nên Chúa Giêsu mới khuyến cáo. Vâng, yêu người khó lắm, như Thánh LM Gioan Maria Vianney xác định: “Lý do chúng ta không có cách giải quyết tốt vì chúng ta coi trọng mình quá nhiều”.

Yêu nhau kiếp này mới là điều quan trọng và cần thiết. Người chết rồi làm sao thương đây?

Lạy Thiên Chúa của con, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người (Kinh Hòa Bình, Thánh Phanxicô Assisi); xin dạy con đường lối Ngài, để con vững bước theo chân lý của Ngài; xin Chúa hướng lòng con, để con biết một niềm kính tôn Danh Thánh (Tv 86:11); xin dạy con đường lối thánh chỉ, con nguyện đi theo mãi đến cùng (Tv 119:33); xin dạy con hiểu cho tường, xét cho đúng, vì con vẫn tin vào mệnh lệnh Ngài (Tv 119:66). Xin Ngài thương xót mà tha thứ cho con vì con bất túc nên luôn làm phiền Ngài và cầu xin Ngài quá nhiều!

TRẦM THIÊN THU
Đêm tịch liêu, 4-11-2014

- dongcong.net sưu tầm November 8, 2014

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)