Suy Niệm năm C
Chúa Nhật I MC năm C
KẾT HỢP VỚI CHÚA ĐỂ CHỐNG TRẢ CÁC CƠN CÁM DỖ
Đnl 26, 4-10; Rm 10, 8-13; Lc 4, 1-13
Suốt hành trình trong sa mạc, chúng ta thấy dân Israel cứ ngã lên ngã xuống bởi lẽ niềm tin của dân như thế nào với Thiên Chúa.
Thiên Chúa yêu thương dân và cho dân được hưởng mọi điều thế nhưng mà dân đã không nhận ra tình thương đó. Các cơn cám dỗ cứ đến với dân. Chúa thì yêu thương dân còn dân thì đặt hết yêu sách này đến yêu sách nọ với Chúa.
Đọc lại lịch sử cứu độ, chúng ta thấy hết sức buồn cười. Cứ mỗi lần Môsê lên núi để gặp Chúa, để đàm đạo với Chúa thì khi ấy y như rằng ở dưới núi có vấn đề.
Khi Môsê đi đàm đạo với Thiên Chúa thì dân ở dưới tạc con bò bằng vàng lên để thờ. Không chỉ dừng lại con bò vàng và con bò vàng không phải là kinh nghiệm duy nhất cho dân. Dân cứ chạy theo thần này thần nọ để xì xà xì xụp bái lạy để mong cho dân mình được giải thoát, mong cho dân mình được hưởng điều này điều kia. Hoàn toàn dân sai lầm khi bỏ Thiên Chúa để đi thờ những thần ngoại bang khác.
Cũng dễ hiểu thôi, đó chính là giằng co trong lòng của mỗi con người.
Chúa Giêsu xuống thế làm người cũng không thoát khỏi cái thân phận yếu đuối của con người. Trong sứ mạng cứu độ con người, Chúa Giêsu được Thánh Thần dẫn đi vào hoang địa và ở đó bốn mươi ngày không ăn không uống gì cả. Trong Cựu Ước, con số 40 là con số biểu thị. Như Môsê đã không ăn không uống 40 ngày trên núi Sinai (Xh 34, 28) và dân Israel đã sống 40 năm trong sa mạc trước khi đặt chân vào Đất Hứa (Đnl 8, 2-3; 29, 4-5).
Đây không phải là lần duy nhất Chúa Giêsu chịu cám dỗ vì lẽ Tin Mừng nói 3 lần : quỷ đã bỏ Người mà đi, "chờ đợi thời cơ" (c.3)
Trước hết, quỷ cám dỗ Chúa Giêsu dùng quyền năng siêu nhiên để đáp ứng nhu cầu vật chất của mình. Chúa Giêsu không chịu lạm dụng quyền năng của mình cách đó. Ngài tự đồng hóa trở nên người với chúng ta. Chúng ta không chỉ cần lương thực để nuôi thân xác này mà chúng ta cần cả lương thực thiêng liêng.
Sau đó, qủy hứa sẽ cho Chúa Giêsu quyền cai trị các dân các nước trên toàn cõi đất nếu như Ngài bái lạy nó. Chúa Giêsu thực sự đến thế gian để cứu người ta khỏi quyền lực của ma quỷ nhưng không phải đi theo con đường đó.
Cuối cùng, quỷ cám dỗ Chúa Giêsu rằng Chúa chứng tỏ bảnh tính Thiên Chúa của Ngài bằng cách gieo mình xuống từ trên nóc Đền Thờ để rồi sau đó Thiên Chúa sẽ sai các thiên sứ đến cứu Ngài.
Ba cám dỗ này chính là căn cốt của mọi cám dỗ của con người : Ước muốn loại trừ, gạt Thiên Chúa ra một bên; con Chúa như là gì đó phụ thuộc và thừa thải, chỉ dựa trên sức mạnh của mình và điều khiển thế giới này không cần Thiên Chúa.
Chúa Giêsu đã không bị các sự lừa dối do ma quỷ lường gạt. Ngay cả khi chúng dùng chính Thánh Kinh để cám dỗ Ngài. Ngài đã bác bỏ mỗi cám dỗ bằng một lời Thánh Kinh dẫn từ các đoạn 8,3; 6, 13; 6, 16 trong sách Đệ Nhị Luật. Mỗi đoạn Thánh Kinh Chúa Giêsu trích dẫn được chú giải một cách hết sức chính xác.
Cả với Chúa Giêsu và với chúng ta, bản chất mọi cám dỗ chính là những lời mời, lời đề nghị xem ra hết sức hấp dẫn và tốt hơn để thay thế vai trò, vị trí của Thiên Chúa trong cuộc đời chúng ta. Những lời mời gọi của ma quỷ xem ra dễ thu hút con người ta hơn là lời của Thiên Chúa.
Vào các ngôi Chùa, chúng ta thấy có 2 tượng thần một trắng và một đen : Thần thiện và thần dữ. Biểu tượng như thế muốn nói với con người rằng tâm của con người có tâm thiện và tâm ác. Hai tâm đó ở trong con người và giằng co con người.
Thánh Phao lô đã nói lên lòng của mình là điều tốt thì tôi không muốn làm còn điều tôi biết là xấu tôi lại cứ làm ! Thế đấy ! Trong con người vẫn mang trong mình sự giằng co của điều tốt và điều xấu. Dĩ nhiên chẳng ai muốn làm điều xấu cả nhưng con người vẫn luôn luôn luôn bị giằng co.
Chúa Giêsu cũng vậy, trong thân phận làm người, chẳng ai muốn đau khổ, chẳng ai muốn thiệt thòi và ai cũng mong cho mình có chức quyền, không cần nại đến Thiên Chúa để rồi nghe và làm theo lời ngon ngọt của ma quỷ.
Bài học cám dỗ của ông bà nguyên tổ vẫn còn mới với chúng ta. Chúng ta trong cái thân phận tù túng của con người, đôi ba lần chúng ta muốn vượt qua cái tù túng đó bằng cách đi xem bói, đi hỏi thầy xem cuộc đời ta có khá hơn hay không ? Có những người cả tin đến độ cứ nghe lời của thầy bói để rồi chẳng làm gì cả để rồi cứ ngồi đó mà hưởng. Thực tế thì chẳng ai được điều gì từ lời hứa lời nói bóng bẩy đó. Có ông thầy bà thầy nào có thể biết được mình sống bao nhiêu tuổi đâu ? Nếu như họ biết thì họ chẳng ngồi đó để xem bói làm gì cả. Nếu đơn giản thôi, chỉ cần biết xổ số chiều nay ra cái gì thì cứ đi gom cái đống số đó để chiều trúng chứ cần gì phải ngồi đó xem bói.
Ngày mỗi ngày, con người vẫn đứng trước những lời ngọt ngào của các cơn cám dỗ. Có thể là tiền bạc, danh vọng, chức vì và ham muốn. Những cám dỗ đó thường ẩn nấp dưới những vỏ bọc xem ra là đẹp, xem ra là thánh thiện.
Tiền bạc : Ai cũng nhân danh rằng cuộc sống cần tiền để lao đầu đi kiếm tiền. Dĩ nhiên là đúng nhưng tiền bao nhiêu thì đủ. Có những người cuộc sống khá đủ rồi nhưng chẳng bao giờ họ chịu dừng lại để rồi cứ lao đầu đi kiếm tiền và tiền khi ấy như là chúa, là chủ đời của họ.
Chức quyền, danh vọng : Ai cũng nhân danh mình có quyền để rồi mình làm những gì mình muốn trên người khác. Tất cả cũng chỉ là thụ tạo nhỏ bé trong bàn tay của Chúa vấy vậy mà cứ phải huyênh hoang. Ngay cả tổng thống, chủ tịch nước đi chăng nữa cũng chỉ là có ngần có hạn chứ đâu ai ở mãi trên cái ngôi vị cao đó.
Ước muốn : Cuộc sống của ta, nhiều khi ta quá đủ. Có gia đình, có vợ đẹp con khôn nhưng đâu chịu dừng lại ở chỗ đó để đi ước muốn vợ của người khác. Vật chất cũng thế, nhiều khi ta quá đủ nhưng lòng tham của ta nó cứ trào dâng và đi tìm những cái để khỏa lấp lòng của mình nhưng thử hỏi bao nhiêu mới gọi là đủ.
Tất cả những ước muốn, những cám dỗ đó không dễ để nhận ra vì con người thường hay biện minh cho vì đó là nhu cầu thực tế của con người. Thế nhưng, đàng sau cái nhu cầu đó chính là những cơn cám dỗ lớn của con người.
Ngày hôm nay, chúng ta thấy Chúa Giêsu đã chống trả các cơn cám dỗ đó bằng chính Lời Hằng Sống của Thiên Chúa. Chỉ có Lời Chúa mới có thể chống trả được mà thôi. Để được như vậy, chúng ta thấy Chúa Giêsu đã để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn, hoạt động trong Ngài để Ngài có thể vượt qua các cơn cám dỗ.
Thành ra bí quyết là như vậy ! Bí quyết là để cho Thánh Thần hướng dẫn và bám chặt đời mình vào Chúa.
Khi và khi chi ta kết hợp mật thiết với Chúa thì ta mới có thể chống trả được các cơn cám dỗ mà thôi.
Khởi đầu mùa Chay Thánh, chúng ta cũng bắt chước như Chúa Giêsu là kết hợp mật thiết với Thiên Chúa Cha và để cho Thánh Thần hướng dẫn cuộc đời của chúng ta.
Lm Anmai, CSsR 2013
Chúa nhật 1 Mùa Chay năm C-2010
Tín thác vào Chúa để chống trả cơn cám dỗ
Đnl 26, 4-10; Rm 10, 8-13; Lc 4, 1-13
Chúa nhật thứ nhất dẫn vào mùa Chay, Hội Thánh mời gọi ta nhìn hay nói đúng hơn là chiêm nghiệm cơn cám dỗ của Chúa Giêsu trong hoang địa. Cám dỗ là thử thách đối với con người. Ai nghe đến cám dỗ cũng đều ngao ngán.
Nếu đặt cơn cám dỗ trong chiều kích con người thì quả thật là vất vả, khó khăn nhưng nếu đặt trong chiều kích thiêng thì thật tốt nếu ta vui vẻ để “Chúa Thánh Thần dẫn vào hoang địa". Đó là cơ hội sống động cho ta khám phá hoặc tái khám phá ra những cạm bẫy thường xuyên giăng dưới bước chân người Do Thái, những cạm bẫy mà Chúa Giêsu đã chịu, đã gặp trong cuộc đời của Ngài. Những cơn cám dỗ ấy vẫn còn đây đó trong từng ngày, từng hơi thở của ta cho đến ngày ta nhắm mắt xuôi tay. Ta hãy học cách đối chọi với những cơn cám dỗ để ta không bị lệch hướng mà Chúa Giêsu mời ta đi với Ngài.
Những cạm bẫy của sự dữ bên ngoài luôn toả ra hào quang duyên dáng và lôi cuốn, mời mọc tinh vi và đáng sợ, cộng với trí thông minh và sự kiên nhẫn của "Địch thủ của triều đại Thiên Chúa".
Đâu đó có thể là cơn cám dỗ dùng Lời Chúa phục vụ mọi ham thích của ta về sở hữu, về hiểu biết, về quyền lực, là những nguồn không bao giờ cạn “của mọi loài hình cám dỗ" luôn quấy phá các tín hữu và các Giáo Hội.
Đâu đó có thể là những ham hố quá đáng đi tìm điều lạ lùng, săn đuổi các cuộc hiện ra, các phép lạ, làm lệch hướng những đòi hỏi khẩn cấp của Tin Mừng.
Đâu đó có thể là cầu nguyện sốt sắng bên ngoài để phiền nhiễu Thiên Chúa, mong rút tỉa được đặc ân tránh khỏi thử thách, khổ đau.
Ngoài những cám dỗ đó, con người luôn luôn bị vướng vào cái cạm bẫy còn là những an thân giả tạo, những bảo đảm hão huyền mà ta mải mê tìm kiếm trong một mớ chồng chất những lễ nghi trống rỗng vô nghĩa vô hồn.
Cơn cám dỗ tinh vi cuốn ta vào đủ mọi thứ hy sinh đến từ tinh thần thống trị, lòng ham thích sức mạnh và say mê quyền lực Thiên đường các ngẫu tượng
Về cám dỗ, về đau khổ, hơn một lần Phêrô phản ứng một cách gay gắt, một cách hết sức bộc trực khi nghe Chúa Giêsu loan báo cuộc khổ nạn: "Không! Thầy không phải chịu như thế !”. Ta cũng giống như Phêrô thôi, đó là cảm tính hết sức tự nhiên của con người. Thật sự, Chúa Giêsu không thật sự bị cám dỗ, Người đã chấp nhận bị cám dỗ "vì ta", để dạy ta biết phải chống lại các cơn cám dỗ như thế nào. Để giải thích cho suy nghĩ này không đơn giản. Làm như Chúa Giêsu cố tình và rồi người ta sẽ nghĩ rằng Chúa giả vời làm người, giả vờ đau khổ, giả vờ cảm thương và cũng giả chết.
Chúa đã đi vào cơn cám dỗ để cho mọi người nhìn thấy tận căn cái kiếp người mà Ngài đã vâng phục theo lời của Chúa Cha. Qua những cơn cám dỗ, những cơn thử thách, ta sẽ thấy Chúa Giêsu đặt niềm tin vào Cha của mình như thế nào.
Thánh Luca, cũng như thánh Matthêu, thuật lại chuyện Chúa Giêsu có thứ tự khác nhưng tựu trung vẫn là 3 cuộc cám dỗ. Ba cuộc cám dỗ, chính Luca đã xác định rõ ràng ở phần kết. Thánh sử đã sử dụng mọi hình thức cám dỗ: những cơn cám dỗ mà Chúa Giêsu sẽ phải đương đầu suốt hành trình rao riảng Tin Mừng của Ngài đến chết, những cơn cám dỗ mà các môn đệ và những ai mang thân phận làm người và nhất là những ai bước theo Chúa Giêsu đều sẽ gặp.
Ba cơn cám dỗ, cũng như ba lời trích dẫn đã ghi chú cặn kẽ, đã được khéo léo lựa chọn từ sách Thứ Luật, đó là những cơn cám dỗ mà dân Israel đã phải đương đầu, trong hành trình dài 40 năm trong sa mạc. Vấn đề là họ đã sa ngã. Nay đến phiên Chúa Giêsu phải đương đầu với những cơn cám dỗ ấy, suốt 40 ngày trong sa mạc: Ba lần, địch thù thử thách lòng trung tín của người Con đối với Thiên Chúa và với chương trình cứu độ của Người; trong cả 3 lần, Đức Giêsu đã chiến thắng.
Với cơn cám dỗ này, Chúa Giêsu chỉ nói những lời tích từ Cựu ước, Con Thiên Chúa phải trải qua 3 cuộc thử thách mà xưa kia dân Israel trong chuyến Xuất Hành đã đương đầu và đã sa ngã đã sa ngã; rút được kinh nghiệm từ những bài học trong sạch thứ Luật, cảnh giác để khỏi tái diễn những lỗi lầm tương tự. Chúa Giêsu đã chiến thắng đối thủ.
Với cám dỗ đầu tiên, giống như Matthêu, là cơn cám dỗ về vật chất. Cơn cám dỗ chỉ tìm lợi lộc vật chất, cơn cám dỗ của một chủ nghĩa Mêsia thiển cận: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy biến hòn đá này thành bánh đi ".
Đoạn 8, câu 3 nói về manna trong sách thứ, Chúa Giêsu trích dẫn lời đầu tiên và Ngài trả lời ngay tức khắc: "Người ta sống không nguyên bởi bánh". Người từ chối làm phép lạ vì lợi lộc riêng tư. Là Con Một của Chúa Cha, Ngài đã nhận tất cả từ Thiên Chúa, Cha của Ngài và chỉ từ Chúa Cha mà thôi; nên Ngài phó thác tất cả cho Thiên Chúa, Cha của Ngài và chỉ phó thác cho Chúa Cha mà thôi. Với Chúa Giêsu, người con là kẻ nhận được sự hiện hữu, sự sống không từ chính mình, nhưng từ một kẻ khác, từ Cha của mình. Con là kẻ hiểu biết trong niềm vui và niềm biết ơn rằng mình sống nhờ Cha. .: Ngài không phải là kẻ ra lệnh để có bánh; chính Chúa, Thiên Chúa của Người sẽ ban lương thực cùng với Lề Luật. Con không ra lệnh nhưng Ngài khẩn cầu với Cha như trong kinh Lạy Cha mà Ngài đã dạy cho các môn đệ, cho mọi người, Ngài dạy chúng ta rằng: "Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày”. .
Cơn cám dỗ thứ hai, khác với trình thuật của Matthêu, là cơn cám dỗ về quyền năng; cơn cám dỗ về một chủ nghĩa Mêsia theo tham vọng loài người, dù phải trả giá bằng sự thoả hiệp. "Nếu ông thờ lạy tôi, quỉ đoán chắc, ông sẽ có tất cả " ("Mọi quyền lực và vinh quang của các vương quốc ấy”).
Chúa Giêsu trả lời ngay với lời trích dẫn lần thứ hai Ngài trích từ sách Thứ luật 6, 1 3 - đoạn nói về con bò vàng - "Đã chép rằng: Người chỉ được thờ lạy Chúa, Thiên Chúa của ngươi mà thôi ". Ngài đã từ chối không tôn kính thủ lãnh trần gian để hành xử vương quyền phổ quát. Là Con thật sự, Ngài sẽ nắm giữ vương quyền từ Thiên Chúa, Cha của Ngài, và chỉ từ Cha người mà thôi, theo con đường Cha đã chọn: con đường khiêm nhường, nghèo hèn, thánh giá. Và Chúa Giêsu sẽ nhận được các vương quốc trần gian, Ngài sẽ là Đức Kitô, Vua, vì Ngài đã từ chối vương quyền xấu xa của ma quỉ, vì Ngài đã tự nguyện trở nên tôi tớ của Thiên Chúa và của nhân loại."
Cơn cám dỗ thứ ba Luca đã cho diễn ra ở Giêrusalem, báo trước thử thách quyết liệt sau này, đó là cơn cám dỗ ma thuật, cơn cám dỗ thử thách Thiên Chúa, đi tìm những dấu chỉ kinh thiên động địa của Đấng Mêsia. Ma quỷ dùng Tv 90, cố cám dỗ một lần cuối: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy gieo mình xuống; Có lời chép rằng: người đã ra lính cho các thiên thần gìn giữ ông ".
Lần cuối cùng trích dẫn sách Thứ Luật 6,16 - đoạn nói về Massa, nơi dân Do Thái đã buộc Chúa phải cho họ nước uống - Đức Giêsu đáp tức khắc: "Đã chép rằng: "Ngươi đừng thủ thách Chúa là Thiên Chúa của ngươi". Chúa Giêsu đã từ chối sử dụng quyền làm Con Thiên Chúa để bảo vệ mình... và mê hoặc người Do Thái bằng những điều kỳ diệu. Ngài đã từ chối buộc Thiên Chúa phải can thiệp. Ngài không đòi phép lạ để cứu mạng sống mình; người chẳng đòi hỏi cả khi Người bị treo trên thánh giá. Chúa Giêsu vẫn xác tín và vẫn tin chắc rằng Thiên Chúa sẽ cứu Ngài và gài không có quyền kiểm chứng xem Chúa Cha có trung tín không; Thiên Chúa chẳng cần phải chứng tỏ cho mọi người thấy Thiên Chúa có cứu Ngài"
Muốn vượt qua những cơn cám dỗ của cuộc đời ắt hẳn không còn con đường nào khác là đi theo con đường của Chúa Giêsu đã đi đó là con đường đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa. Con đường tuyên xưng niềm tin vào Thiên Chúa đã được Thánh Phaolô mời gọi trong thư của Ngài gửi tín hữu Rôma: Lời Thiên Chúa ở gần bạn, ngay trên miệng, ngay trong lòng. Lời đó chính là lời chúng tôi rao giảng để khơi dậy đức tin. Nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giê-su là Chúa, và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được cứu độ. Quả thế, có tin thật trong lòng, mới được nên công chính; có xưng ra ngoài miệng, mới được ơn cứu độ. Kinh Thánh nói: Mọi kẻ tin vào Người sẽ không phải thất vọng. Như vậy, không có sự khác biệt giữa người Do Thái và người Hy Lạp, vì tất cả đều có cùng một Chúa, là Đấng quảng đại đối với tất cả những ai kêu cầu Người. Vì: Tất cả những ai kêu cầu danh Đức Chúa sẽ được cứu thoát.
Như Chúa Giêsu đã nại vào danh Chúa Cha, nại vào quyền năng của Chúa Giêsu để được ơn cứu thoát thì chúng ta, chúng ta cũng bắt chước Chúa Giêsu để chạy đến với Chúa Cha mọi lúc, mọi nơi để vượt thắng những cơn cám dỗ của cuộc đời.
Anmai, CSsR 2010
- dongcong.net