Đức Giáo Hoàng Phanxicô I
 

 

Sinh Hoạt của ĐTC 2013

HOME

-Tháng 1
-Tháng 2
-Tháng 3
-Tháng 4
-Tháng 5

 


Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Tháng 8 năm 2013

VATICAN

Các sinh hoạt cuối trong Năm Đức Tin ở Roma

VATICAN. Từ nay cho đến khi kết thúc Năm Đức Tin, có 3 sinh hoạt lớn sẽ tiến hành tại Roma.

1. Hội nghị quốc tế các giáo lý viên
Sẽ tiến hành từ ngày 26 đến 28-9-2013 tại Đại thính đường Phaolô 6 ở nội thành Vatican, với sự tham dự của các vị chủ tịch các Ủy ban GM đặc trách về huấn giáo, truyền giáo và những đề tài tương tự; cùng với các vị lãnh đạo các văn phòng giáo lý quốc gia và giáo phận cùng nhiều giáo lý viên khác. Ngoài ra mỗi giáo phận có thể gửi một số giáo lý viên đại diện. Sau cùng là đại diện của các tổ chức giảng huấn dấn thân trong việc suy tư về đề tài huấn giáo.

Trong thông cáo giới thiệu hội nghị này, Hội đồng Tòa Thánh tái truyền giảng Tin Mừng khẳng định rằng:
“Trong số các mục đích của Năm Đức Tin, có nhu cầu phục hồi sự ”thống nhất sâu xa giữa hành vi đức tin và nội dung mà chúng ta chấp nhận tin” (Porta fidei, 10), vì đức tin, trước tiên là một hồng ân của Thiên Chúa và tiếp đến là hành động cảm tạ biến đổi con tim của người tin. Ngoài ra, ”sự hiểu biết về các nội dung cần tin sẽ không đủ nếu tâm hồn, vốn là cung thánh đích thực của mỗi người, không cởi mở đối với ơn thánh, giúp tín hữu có đôi mắt để nhìn sâu và hiểu được loan báo, tức là Lời Chúa” (Porta fidei 10).

”Trong sự mô tả vừa nói có bao hàm con người và vai trò của giáo lý viên. Trong thời đại kiến thức và kinh nghiệm bị phân tán như ngày nay, điều cấp thiết là nâng đỡ, thăng tiến và huấn luyện các giáo lý viên có khả năng đương đầu với những thách đố ngày nay, để cống hiến một chứng tá có khả năng khơi dây nơi cộng đoàn Kitô một năng động giúp trình bày đề nghị của Thiên Chúa với con người ngày nay, qua Đức Giêsu Kitô.
Hội nghị quốc tế về giáo lý muốn trình bày một suy tư về phần đầu trong Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo và nhắm đến các vị hữu trách về huấn giáo của các Giáo Hội địa phương.

Hội nghị muốn đặt hình ảnh cuộc gặp gỡ của các môn đệ trên đường làng Emmaus với Đấng Phục Sinh như khuôn mẫu lịch sử các tín hữu. Việc huấn giáo và giáo lý viên là những dụng cụ để phong phú hóa cuộc gặp gỡ với Chúa và soi sáng sự chọn lựa bước theo Chúa.

Tiếp nối Hội nghị quốc tế có tính chất lý thuyết và thực hành trên đây, là cuộc hành hương của các Giáo Lý viên trong năm Đức tin, bắt đầu từ thứ bẩy, 28-9.

Theo chương trình, từ 10 giờ sáng đến 2 giờ chiều, là cuộc hành hương tại Mộ Thánh Phêrô: các nhóm giáo lý viên sẽ vào Đền thờ Thánh Phêrô để tuyên xưng đức tin; đồng thời tại các địa điểm gần Đền Thờ này có một số nơi để cử hành bí tích hòa giải và chầu Mình Thánh Chúa.

Lúc 3 giờ chiều, có các buổi huấn giáo tùy theo ngôn ngữ tại một số nhà thờ ở Roma, và tiếp theo đó là thánh lễ.
Sáng chúa nhật 29-9 vào lúc 10 giờ rưỡi, có thánh lễ do ĐTC Phanxicô chủ sự tại Quảng trường thánh Phêrô.

2. Cuộc hành hương của các Hội đoàn Thánh Mẫu
Sinh hoạt này sẽ diễn ra trong hai này 12 và 13-10-2013 với sự tham dự của hàng chục ngàn thành viên các Hội đoàn Thánh Mẫu, chuyên cổ võ lòng sùng kính Đức Mẹ.

Theo chương trình tổng quát: sáng thứ bẩy 12-10, từ 8 đến 12 giờ, các nhóm tín hữu sẽ hành hương tại mộ Thánh Phêrô, trong khi đó từ 9 đến 12 giờ có chầu Thánh Thể và cử hành bí tích hòa giải tại một số nhà thờ gần Quảng trường thánh Phêrô.

Ban chiều vào lúc 7 giờ có cuộc cung nghinh tượng Đức Mẹ Fatima tại Quảng trường thánh Phêrô với sự hiện diện của ĐTC, và có các bài giáo lý về Thánh Mẫu.
Từ 7 giờ tối, Tượng Đức Mẹ Fatima sẽ có mặt tại Đền thánh Đức Mẹ tình yêu Thiên Chúa cách trung tâm Roma 15 cây số. Tại đây giáo phận Roma sẽ tổ chức buổi canh thức cầu nguyện suốt đêm, trong đó có buổi đọc kinh Mân Côi được nối với các Trung Tâm Thánh Mẫu trên thế giới, kế đến là canh thức từ lúc 10 giờ.
Sáng hôm sau, chúa nhật 13-10, tượng Đức Mẹ được đưa trở lại Quảng trường Thánh Phêrô. Tại đây lúc 10 giờ có đọc kinh Mân Côi và nửa tiếng sau đó là thánh lễ do ĐTC Phanxicô cử hành.

Đón rưc tưng Đức Mẹ Fatima và thánh hiến cho Đức Mẹ

Hồi đầu tháng 8 năm nay, Ban giám đốc Đền thánh Đức Mẹ Fatima ở Bồ đào nha, cho biết chính ĐTC Phanxicô đã yêu cầu đưa nguyên bản tượng Đức Mẹ Fatima về Vatican cho dịp cử hành này. Đây sẽ là lần thứ 11 tượng Đức Mẹ Fatima, tạc hồi năm 1920, được đưa khỏi Đền thánh Đức Mẹ. Trong lần thứ 7, cách đây 29 năm (1984), tượng Đức Mẹ được đưa về Vatican trong lễ nghi thánh hiến thế giới cho Trái Tim vẹn sạch Đức Mẹ do ĐTC Gioan Phaolô 2 cử hành tại Đền thờ Thánh Phêrô sáng ngày 25-3-1984.

Sau đó, ngày 8-10 năm thánh 2000, tượng Đức Mẹ Fatima lại được đưa về Vatican và trong dịp đó, Đức Gioan Phaolô 2 đã thánh hiến Ngàn Năm Mới cho Đức Mẹ trước sự hiện diện của 1500 GM đến từ các nơi trên thế giới.
ĐTC Gioan Phaolô 2 có một liên hệ đặc biệt với Đức Mẹ Fatima và ngài xác tín đã được Đức Mẹ gìn giữ trong cuộc mưu sát ngài ngày 13-5-19081 tại Quảng Trường Thánh Phêrô. Về sau ngài đã tặng cho Đức GM Fatima viên đạn mà ngài bị bắn và Đức Cha đã cho gắn viên đạn đó vào triều thiên bằng vàng của tượng Đức Mẹ.

Về phần ĐTC Phanxicô, ngài đã nhắc đến tượng Đức Mẹ Fatima trong buổi đọc kinh truyền tin đầu tiên chúa nhật 17-3 năm nay, tức là 4 ngày sau khi được bầu làm Giáo Hoàng. Ngài nói đến một bản sao tượng Đức Mẹ Fatima được rước đi các nơi trên thế giới và kể lại rằng: ”Tôi còn nhớ hồi năm 1992, khi tôi mới làm Giám Mục, tượng Đức Mẹ Fatima được rước đến thành phố Buenos Aires và đã có một thánh lễ trọng thể được cử hành cho các bệnh nhân. Tôi đã đi giải tội trong dịp thánh lễ ấy. Gần cuối thánh lễ, tôi đứng lên vì phải ban phép thêm sức. Lúc ấy có một bà cụ già, khiêm tốn, rất khiêm tốn, đến gặp tôi, bà cụ đã hơn 80 tuổi, bà xin xưng tội. Và tôi ngạc nhiên vì đức tin đơn sơ nhưng sâu xa của bà. Bà nói: ”Nếu Chúa không tha thứ tất cả, thì thế giới này không hiện hữu được”.

Một tháng sau, ĐHY José Policarpo, Thượng Phụ thành Lisboa, cho biết ĐTC Phanxicô đã hai lần xin ngài phó thác sứ vụ Phêrô của Người cho Đức Mẹ Fatima.” Việc phó thác và dâng hiến ấy đã được ĐHY Policarpo thực hiện ngày 13-5 năm nay và đọc kinh như sau:

”Chúng con, các GM Bồ đào nha cùng với đông đảo các tín hữu hành hương, trong ngày kỷ niệm 96 năm Đức Mẹ hiện ra với các mục đồng, đứng dưới chân Mẹ đây, để thực hiện ước muốn của ĐGH Phanxicô, được bày tỏ rõ ràng, thánh hiến sứ vụ GM Roma và mục tử hoàn vũ của Người cho Mẹ, Đức Trinh Nữ Fatima”.

Cũng nên nhắc lại rằng việc thánh hiến thế giới cho Đức Mẹ Fatima được cử hành lần đầu tiên do ĐGH Piô 12 ngày 30-11 năm 1942 giữa lúc thế chiến thứ 2 đang hoành hành. Ngài nói bằng tiếng Bồ đào nha, qua đài phát thanh, dâng hiến thế giới cho Khiết Tâm Đức Mẹ, và ám chỉ tới cả nước Nga.

Sự kiện ĐGH Phanxicô không gặp vấn đề gì khi công khai bày tỏ lòng gắn bó với Đức Mẹ cũng được biểu lộ qua 5 lần ngài đến viếng thăm cầu nguyện tại Đền thờ Đức Bà Cả ở Roma. Lần đầu vào sáng ngày 14-3 năm nay, tức là chưa đầy 15 tiếng đồng hồ sau khi được bầu làm Giáo Hoàng. Ngài đã đặt vòng hoa trước ảnh Đức Mẹ là Phần rỗi của dân Roma và xin Đức Mẹ phù hộ cho dân thành này... Lần thứ 5 sáng ngày 29-7-2013, khi ĐTC từ phi trường Ciampino về Vatican sau chuyến viếng thăm tại Brazil nhân dịp Ngày Quốc Tế giới trẻ. Ngài dừng lại tại Đền thờ Đức Bà Cả để cảm tạ Đức Mẹ.

3. Cuộc gặp gỡ các gia đình Công Giáo thế giới

Biến cố chót dịp Năm Đức Tin được cử hành ở Roma là cuộc gặp gỡ các gia đình Công Giáo từ các nơi trên thế giới trong hai ngày 26 và 27 tháng 10 với ĐTC Phanxicô để cử hành ngày đời sống gia đình.
Cuộc hành hương có chủ đề là ”Hỡi gia đình, hãy sống niềm vui đức tin! Cuộc hành hương của các gia đình tại Mộ Thánh Phêrô nhân Năm Đức tin”.

Hội đồng Tòa Thánh tái truyền giảng Tin Mừng cũng là cơ quan tổ chức biến cố này, cho biết cuộc hành hương là cơ hội chia sẽ vui mừng của các gia đình trên thế giới. Các đôi vợ chồng sẽ được con cái và các ông bà nội ngoại tháp tùng. Họ được mời làm chứng về đức tin trong vui tươi và tín thác tại Mộ Thánh Phêrô. Tầm quan trọng của gia đình như nơi ưu tiên để thông truyền đức tin thúc đẩy chúng ta cầu nguyện và suy tư về gia trị của chính gia đình và làm chứng về đức tin của chúng ta trong toàn thế giới.

Theo chương trình đại cương, các gia đình tại Quảng trường Nhân Dân (Piazza del Popolo) sáng thứ bẩy, 26-10, và lúc 2 giờ họ tuần hành về Quảng trường thánh Phêrô và cầu nguyện tại đây. Lúc 6 giờ chiều, ĐTC Phanxicô sẽ đến gặp gỡ họ.

Sáng chúa nhật 27-10, có buổi đọc kinh Mân Côi, tiếp đến là thánh lễ do ĐTC cử hành lúc 10 giờ cũng tại Quảng trường thánh Phêrô và sau đó là kinh Truyền Tin.

Năm Đức Tin nhân dịp kỷ niệm 50 năm khai mạc Công đồng chung Vatican 2, do ĐTC Biển Đức đề xướng và khai mạc ngày 11-10 năm 2012 sẽ kết thúc với thánh lễ trọng thể do ĐTC Phanxicô chủ sự lúc 10 giờ sáng chúa nhật 24-11 tới đây tại Quảng trường Thánh Phêrô.

Trong 14 tháng qua, rất nhiều sinh hoạt đã được cử hành tại các Giáo Hội địa phương cũng như tại Roma nhân dịp Năm Đức Tin.

G. Trần Đức Anh OP

Tự do tôn giáo là con đường dẫn tới Hòa bình
Linh Tiến Khải 8/25/2013

RIMINI - Chiều ngày 23-8-2013 tại đại hội tình bạn các dân tộc ở Rimini, Đức Hồng Y Jean Louis Tauran, Chủ tịch Hội đồng tòa Thánh đối thoại liên tôn, đã thuyết trình về đề tài ”Tự do tôn giáo như con đường dẫn tới hòa bình”. Ngài khẳng định rằng tôn giáo là sức mạnh giúp xây dựng hòa bình trên thế giới.

Đức Hồng Y nhắc lại lời Đức Thánh Cha Biển Đức XVI mạnh mẽ lên án nạn khủng bố bạo lực đội lốt tôn giáo trong diễn văn nói với ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh năm 2006. Khủng bố đội lốt tôn giáo có nhiều lý do phức tạp, như ý thức hệ chính trị trộn lẫn với các ý niệm tôn giáo lệch lạc. Nó không ngần ngại tấn kích các người vô tội, không phương thế tự vệ, hay đưa ra các điều kiện vô nhân, gieo kinh hoàng sợ hãi cho dân chúng, nhằm gây áp lực với các giới hữu trách chính trị, để họ phải tuân theo các dự án của chính những kẻ khủng bố. Không có gì có thể biện minh cho các hành động tội phạm xấu xa, dùng tôn giáo làm bình phong, và hạ thấp sự thật về Thiên Chúa xuống mức độ mù quáng của luân lý tồi bại. Không thể làm ngơ Thiên Chúa, vì con người là sinh vật tôn giáo. Không có nền văn minh nào mà không có tôn giáo.

Trong bài tham luân Đức Hồng Y Tauran nhấn mạnh rằng tự do tôn giáo là một quyền nền tảng của con người. Nó là sự tự do thiết lập một tương quan cá nhân với sự siêu việt, tự do thực hành niềm tin của mình một cách công khai, và tự do tuyên xưng nó. Trong một xã hội và trong một quốc gia nó là quyền của con người được trật tự pháp lý thừa nhận. Nhà nước phải trung lập trong nghĩa tích cực, bằng cách bảo đảm sự tự do đó của con người, và phục vụ công ích. Nhà nước tân tiến dân chủ không thừa nhận tôn giáo nào hết, để có thể thừa nhận tất cả mọi tôn giáo. Vì thế quyền tự do tôn giáo lớn hơn sự tự do phụng tự và cả tự do tư tưởng.

Tiếp đến Đức Hồng Y Chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh Đối Thoại Liên Tôn khẳng định rằng tin không chỉ là một thực tại cá nhận, mà cũng là một thực tại tập thể của cộng đoàn tín hữu nữa. Việc lựa chọn một tôn giáo tốt nhất là một hành động nội tại, trong khi quyết định theo một tôn giáo xác định bao gồm các hành động bề ngoài: phụng tự, giảng dậy, phổ biến giáo lý vv... Lựa chọn và quyết định có một tương quan với Thiên Chúa là hành động quan trọng nhất con người có thể làm. Nó phải xảy ra, mà không có các áp lực bên ngoài.

Đức Hồng Y Tauran cũng phân biệt giữa tôn giáo là tương quan tùy thuộc Thiên Chúa và các giáo phái chủ trương thống trị các sức mạnh siêu nhiên để phục vụ mình. Liên quan tới việc cộng tác giữa Nhà nước và cộng đoàn tôn giáo ngài ghi nhận rằng nó phải là tương quan tin tưởng hai chiều, nhằm phục vụ công ích và bảo vệ các giá trị dân chủ, bảo đảm một số khía cạnh nền tảng của tôn giáo như các biểu lộ của phụng tự, tự do thành lập hội đoàn và đề nghị đức tin với mọi người. Sau cùng Đức Hồng Y Tauran khẳng định rằng niềm tin tôn giáo là một sức mạnh giúp xây dựng hòa bình. Khi tin nơi phẩm giá duy nhất của con người và các quyền bất khả nhượng của nó trong việc phục vụ tha nhân và thăng tiến toàn nhân loại, người ta hiểu khả năng xây dựng hòa bình của tôn giáo. Các tín hữu là một tài nguyên cho xã hội, vì họ củng cố thiện ích chung, giáo dục tình huynh đệ và liên đới, chứng minh cho thấy sự khác biệt là sự phong phú, chứ không phải một nguy hiểm. Với cuộc sống trung thực của mình, tín hữu nhắc nhở quyền tối thượng của luân lý đạo đức trên ý thức hê, con người trên sự vật, và trí tuệ trên vật chất. Thật chí lý lời của luật gia Luigi Tapparelli người Ý: ”Lấy mất đi tôn giáo khỏi xã hội, con người sẽ mau chóng biến thành hàng hóa” (SD 23-8-2013).

Bài nói chuyện của Đức Thánh Cha Phanxicô với hàng Giám Mục Mỹ Châu Latinh

Lúc 16 giờ chiều Chúa Nhật 28-7-2013 Đức Thánh Cha Phanxicô đã gặp gỡ các Giám Mục, trong đó có 45 vị thuộc Ủy ban điều hành Liên Hội Đồng Giám Mục châu Mỹ Latinh và vùng Caraibi.

Bài nói chuyện của Đức Thánh Cha với các Giám Mục đã là diễn văn dài nhất của ngài kể từ khi lên giữ chức vụ chức Giám Mục Roma kiêm Chủ Chăn Giáo Hội hoàn vũ.

Trong diễn văn Đức Thánh Cha đã tóm tắt một vài đặc thái của Hội nghị Aparecida triệu tập năm 2007 về đề tài truyền giáo cho châu Mỹ Latinh với hai chiều kích chương trình và mô thức thực hiện cụ thể tại các Giáo Hội địa phương. Ý thức về một Giáo Hội được tổ chức để phục vụ tất cả mọi tín hữu và những người thiện chí. Trong số các thách đố ơn gọi tông đồ thừa sai có việc canh tân nội bộ Giáo Hội và đối thoại với thế giới hiện nay.

Tiếp đến Đức Thánh Cha đã đề cập tới vài cám dỗ chống lại ơn gọi tông đồ thừa sai khiến cho Giáo Hội đánh mất đi căn tính đích thật của mình và trở thành một thực thể khác, nhưng không phải là Giáo Hội của Chúa Kitô. Tiếp tục diễn văn nói với các hàng Giám Mục Mỹ châu Latinh, Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc lại một vài tiêu chuẩn Giáo Hội học, giúp hiện thực ơn gọi tông đồ thừa sai trong bối cảnh của Mỹ châu Latinh hiện nay.

Sau đây là nội dung phần đầu bài diễn văn quan trọng này.

Mở đầu bài nói chuyện Đức Thánh Cha Phanxicô nói: Tôi cảm tạ Chúa về cơ may có thể nói chuyện với anh em, chư huynh Giám Mục, đặc trách Liên Hội Đồng Giám Mục châu Mỹ Latinh CELAM trong nhiệm kỳ 2011-2015. Từ 57 năm qua tổ chức CELAM phục vụ 22 Hội Đồng Giám Mục của Mỹ châu Latinh và vùng Caraibi bằng sự cộng tác một cách liên đới và phụ đới để thăng tiến, kích thích và làm năng động tính cách giám mục đoàn và sự hiệp thông giữa các Giáo Hội của Vùng này với các Chủ Chăn của nó.

Cũng như anh em, tôi là chứng nhân của sức thúc đẩy mạnh mẽ của Chúa Thánh Thần trong Hội nghị khoáng đại lần thứ V của Liên Hội Đồng Giám Mục châu Mỹ Latinh tại Aparecida hồi tháng 5 năm 2007. Hội nghị này tiếp tục linh hoạt các công việc của tổ chức CELAM đối với sự mong ước canh tân của các Giáo Hội riêng rẽ. Việc canh tân đó đã được tiến hành trong nhiều Giáo Hội địa phương. Tôi ước mong tập trung buổi nói chuyện này vào gia tài của cuộc gặp gỡ huynh đệ mà chúng ta tất cả đã coi như là Sứ mệnh truyền giáo đại lục.

Tiếp tục diễn văn Đức Thánh Cha đã ghi nhận vài đặc thái của Hội nghị Aparecida và nói: có bốn đặc thái riêng của Hội nghị lần thứ V này. Chúng như bốn cột trụ của việc phát triển của Hội nghị Aparecida và chúng trao ban cho nó sự độc đáo.

Đặc thái thứ nhất là Hội nghị bắt đầu mà không có tài liệu. Tại các Hội nghị Medellin, Puebla và Santo Domingo, các công việc đã bắt đầu với một lộ trình chuẩn bị đạt tột đỉnh với một loạt tài liệu làm việc giúp khai triển việc thảo luận, suy tư và chấp thuận tài liệu chung kết. Trái lại hội nghị Aparecida đã thăng tiến việc tham dự của các Giáo Hội địa phương như lộ trình chuẩn bị đạt tột đỉnh trong một tài liệu tổng kết. Tài liệu này tuy được dùng như điểm tham chiếu trong Hội nghị lần thứ V, nhưng đã không được coi như tài liệu khởi hành. Công việc khởi đầu bao gồm việc góp chung các ưu tư của các Chủ Chăn trước sự thay đổi của thời đại và việc cần thiết phục hồi cuộc sống tông đồ và truyền giáo mới là mục đích mà Chúa Kitô đã thành lập Giáo Hội.

Đặc thái thứ hai là môi trường cầu nguyện với Dân Chúa. Thật quan trọng nhắc tới bầu khí cầu nguyện được tạo ra bởi việc chia sẻ Thánh Thể hằng ngày và các lúc cử hành phụng vụ khác, trong đó chúng ta đã luôn luôn được Dân Thiên Chúa đồng hành. Đàng khác, bởi sự kiện các công việc được tiến hành dưới hầm Đền Thờ, ”nhạc hoạt động” đệm cho các công việc đó là các thánh ca và lời cầu của tín hữu.

Đặc thái thứ ba là Tài liệu kéo dài trong sự dấn thân, với Sứ mệnh truyền giáo đại lục. Trong bầu khí cầu nguyện và đời sống đức tin đó nảy sinh ước muốn của một lễ Hiện Xuống mới cho Giáo Hội và dấn thân Truyền giáo đại lục. Hội nghị Aparecida không kết thúc với một tài liệu, mà kéo dài trong việc Truyền giáo đại lục.

Đặc thái thứ bốn là sự hiện diện của Đức Bà Mẹ của châu Mỹ Latinh. Đây là Hội nghị đầu tiên của Liên Hội Đồng Giám Mục châu Mỹ Latinh và vùng Caraibi được nhóm tại Đền Thánh Đức Mẹ.

Nói tiếp trong bài huấn dụ Đức Thánh Cha trình bầy các chiều kích của việc truyền giáo cho lục địa Châu Mỹ Latinh. Ngài nói: Việc Truyền giáo lục địa được dự phóng trong hai chiều kích: có chương trình và mô thức thực hành.

Truyền giáo có chương trình, như tên của nó nói lên, bao gồm việc thực hiện các hành động có ấn tích truyền giáo. Việc truyền giáo mô thức thực hành trái lại, đòi buộc đặt để các sinh hoạt thông thường của các Giáo Hội địa phương trong chìa khóa truyền giáo. Một cách hiển nhiên, ở đây như là kết quả người ta đưa ra tất cả một năng động cải tổ các cơ cấu Giáo Hội. Việc ”thay đổi các cơ cấu” (từ tàn lụi sang mới mẻ) không phải là hoa trái của một nghiên cứu về việc tổ chức sự thiết đặt Giáo Hội hữu hiệu, từ đó sẽ là một việc tái tổ chức tĩnh, nhưng là kết qủa của năng động truyền giáo. Điều khiến cho các cấu trúc hư nát gẫy đỗ, điều dẫn đưa tới chỗ thay đổi con tim của các Kitô hữu, chính là tính cách truyền giáo. Từ đó nảy ra tầm quan trọng của mô thức truyền giáo.

Truyền giáo đại lục có chương trình hay như mô thức truyền giáo đòi hỏi việc tạo ra ý thức của một Giáo Hội được tổ chức để phục vụ tất cả mọi người đã được rửa tội và những người thiện chí. Người môn đệ Chúa Kitô không phải là một người bị cô lập trong một nền tu đức duy nội tại, nhưng là một người sống trong cộng đoàn để tự hiến cho tha nhân. Vì thế truyền giáo đại lục bao hàm việc thuộc về Giáo Hội.

Một định hướng như thế này, bắt đầu với việc là môn đệ truyền giáo và kéo theo việc hiểu biết căn tính của Kitô hữu như là thuộc về Giáo Hội, đòi hỏi chúng ta phải nêu rõ đâu là các thách đố hiện nay của tính cách truyền giáo của việc làm môn đệ. Tôi sẽ chỉ minh nhiên hai thách đố thôi: việc canh tân nội bộ Giáo Hội và đối thoại với thế giới hiện nay.

Đại hội Aparecida đã đề nghị Việc hoán cải mục vụ như là điều cần thiết. Sự hoán cải này bao gồm việc tin vào Tin Mừng, tin nơi Chúa Giêsu Kitô Đấng đem Nước Thiên Chúa đến, tin nơi sự hòa nhập của Người vào lòng thế giới, tin nơi chiến thắng của Người trên sự dữ, tin nơi sự trợ giúp và hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, tin nơi Giáo Hội, Thân Mình của Chúa Kitô và là tổ chức kéo dài năng động của sự Nhập Thể.

Trong ý nghĩa đó như là các Chủ Chăn chúng ta cần đặt ra các câu hỏi quy hướng về các Giáo Hội mà chúng ta chủ trì. Các câu hỏi này dùng như hướng dẫn giúp duyệt xét tình trạng của các Giáo phận trong việc tiếp nhận tinh thần của hội nghị Aparecida và là các câu hỏi thich hợp chúng ta phải thường xuyên đặt ra như là việc xét mình.

Thứ nhất, chúng ta có làm sao để cho công việc của chúng ta và của các Linh Mục của chúng ta có tính cách mục vụ hơn là quản trị không? Ai là người chính yếu được thừa hưởng cộng việc của Giáo Hội. Giáo Hội như là tổ chức hay Dân của Thiên Chúa trong tổng thể của nó?

Thứ hai, chúng ta có vượt thắng được cám dỗ chú ý một cách phản ứng tới các vấn đề phức tạp nảy sinh ra hay không? Chúng ta có tạo ra một thói quen phò tích cực hay không? Chúng ta có thăng tiến các không gian và cơ hội giúp biểu lộ lòng thương xót của Thiên Chúa không? Chúng ta có ý thức được trách nhiệm phải duyệt xét lại các sinh hoạt mục vụ và hoạt động của các cơ cấu Giáo Hội, bằng cách tìm thiện ích của tín hữu và của xã hội không?

Thứ ba, trong thực hành, chúng ta có làm cho tín hữu giáo dân trở thành những người tham dự vào Sứ Mệnh truyền giáo không? Chúng ta có cống hiến Lời Chúa và các Bí Tích với lương tâm trong sáng và xác tín rằng Chúa Thánh Thần biểu lộ trong đó không?

Thứ bốn, việc phân định mục vụ bằng cách sử dụng các Hội đồng mục vụ giáo phận có là một tiêu chuẩn quen thuộc hay không? Các Hội đồng ấy, và các Hội đồng mục vụ và hội đồng kinh tế giáo xứ có là các khoảng không đích thực cho việc tham dự của giáo dân vào việc cố vấn, tổ chức và lên chương trình mục vụ hay không? Hoạt động tốt của các Hội đồng là điều định đoạt. Tôi tin rằng chúng ta đang rất chậm trễ trong lãnh vực này.

Thứ năm, chúng ta là các Chủ Chăn, Giám Mục và Linh Mục, chúng ta có ý thức và xác tín về sứ mệnh của giáo dân và để cho họ được tự do để họ phân định sứ mệnh mà Chúa trao phó cho họ, một cách phù hợp với con đường môn đệ của họ hay không? Chúng ta có yểm trợ họ và đồng hành với họ, bằng cách thắng vượt bất cứ cám dỗ lèo lái họ hay bắt họ tùng phục trái phép không? Chúng ta có luôn luôn cởi mở để cho mình được mời gọi trong việc tìm kiếm thiện ích của Giáo Hội và Sứ Mệnh của Giáo Hội trong thế giới không?

Thứ sáu, các nhân viên mục vụ và các tín hữu nói chung có cảm thấy họ là thành phần của Giáo Hội, có tự đồng hóa với Giáo Hội và đem Giáo Hội tới gần với các người đã được rửa tội nhưng sống xa Giáo Hội không?

Như chúng ta có thể hiểu ở đây liên quan tới các thái độ. Việc hoán cải mục vụ một cách chính yếu liên quan tới các thái độ và việc cải tổ cuộc sống. Một sự thay đổi thái độ là năng động cần thiết: ”nước vào tiền đình” và chỉ có thể khơi rãnh cho nó bằng cách đồng hành với nó và phân định. Thật là quan trọng phải luôn chú ý rằng để khỏi đi lạc trên con đường này địa bàn là căn tính Công Giáo được hiểu như là thuệc về Giáo Hội.

Thách đố thứ hai là đốl thoại với thế giới hiện nay. Cần phải nhớ các lời của Công Đồng Chung Vaticăng II: các niềm vui và các hy vọng, các nỗi buồn và các âu lo của con người thời nay, nhất là của các người nghèo và những ai đau khổ, cũng là các niềm vui và hy vọng, nỗi buồn và âu lo của các môn đệ Chúa Kitô (GS, 1). Chính đây là nền tảng cuộc đối thoại với thế giới hiện nay.

Câu trả lời cho các vấn nạn hiện sinh của con người ngày nay, đặc biệt của các thế hệ mới, bằng cách chú ý tới ngôn ngữ của họ, bao gồm một sự thay đổi phong phú, cần bước đi với sự trợ giúp của Tin Mừng, của Huấn Quyền và Giáo Lý Xã Hội của Hội Thánh. Các quang cảnh và các nơi rao giảng rất khác nhau. Chẳng hạn, trong cùng một thành phố, có các hình dáng tập thể khác nhau quy định hình dáng ”các thành phố khác nhau”. Nếu chúng ta chỉ ở lại trong các mẫu mực của ”nền văn hóa xưa kia”, nói cho cùng một nền văn hóa của nền tảng đồng quê, kết qủa sẽ là việc hủy bỏ sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Thiên Chúa ở trong tất cả mọi phía: cần phải biết khám phá ra Người để có thể loan báo Người trong tiếng nói của mọi nền văn hóa; và mỗi một thực tại, mỗi một ngôn ngữ đều có tiết nhịp khác nhau.

Trong phần hai bài nói chuyện với hàng Giám Mục châu Mỹ Latinh Đức Thánh Cha Phanxicô trình bầy vài cám dỗ chống lại ơn gọi tông đồ thừa sai và đề ra một vài tiêu chuẩn Giáo Hội học giúp thực thi ơn gọi đó.

Đức Thánh Cha nói: việc chọn lựa cuộc sống môn đệ thừa sai sẽ bị cám dỗ. Vì thế thật quan trọng phải hiểu biết chiến thuật tinh thần gian ác để có thể phân định. Đây không phải là việc đi ra để xua đuổi qủy dữ, nhưng chỉ là sự sáng suốt và khôn lanh theo tinh thần Tin Mừng mà thôi. Tôi chỉ xin nêu lên một vài thái độ diễn tả gương mặt của một Giáo Hội bị ”cám dỗ”. Đây là việc hiểu biết vài đề nghị nào đó hiện nay có thể giảm thiểu năng động của tông đồ thừa sai, khiến cho tiến trình hoán cải mục vụ dừng lại hay thất bại.

Cám dỗ thứ nhất là ý thức hệ hóa sứ điệp tin mừng. Đây là một cám dỗ mà Giáo Hội đã có ngay từ đầu: tìm một giải thích thực dụng tin mừng vượt ngoài chính sứ điệp của Tin Mừng và Giáo Hội. Một thí dụ, hội nghị Aparecida trong một lúc nào đó đã đau khổ vì cám dỗ này dưới hình thức của sự ”khử trùng”. Người ta dùng phương pháp ”nhìn xem, phán đoán, hành động”. Cám đỗ nằm ở chỗ lựa chọn một “nhìn xem” hoàn toàn lạnh lùng, một ”nhìn xem” trung lập, là điều không thể nào thực hiện được. Việc nhìn xem luôn luôn bị ảnh hưởng bởi cái nhìn. Không có việc giải thích thực dụng lạnh lùng. Khi đó câu hỏi nêu lên là chúng ta đi xem thực tại với cái nhìn nào? Hội nghị Aparecida trả lời: với cái nhìn của người môn đệ. Các số từ 20 tới 31 của tài liệu được hiểu theo nghĩa này. Có các cách ý thức hệ hóa sứ điệp khác và hiện nay xuất hiện tại châu Mỹ Latinh và quần đảo Caraibi các đề nghị thuộc loại này. Sau đây tôi xin nhắc tới vài đề nghị:

Thứ nhất, chủ thuyết giản lược xã hội hóa. Đây là ý thức hệ hóa dễ khám phá ra. Trong vài thời điểm nó đã rất mạnh. Nó là một yêu sách giải thích dựa trên một kiểu giải thích của các khoa học xã hội, và bao gồm các lãnh vực khác nhau: từ chủ thuyết thị trường tự do cho tới các loại phạm trù hóa mác xít.

Thứ hai, việc ý thức hệ hóa tâm lý. Đây là một giải thích ưu việt, nói cho cùng nó giản lược việc gặp gỡ với Chúa Giêsu Kitô, và sự phát triển cuối cùng của nó thành một năng động của việc tự hiểu biết mình. Người ta thường cống hiến nó trong các khóa tu đức, các cuộc tĩnh tâm vv... Và kết cục nó trở thành một thái độ tự tại quy chiếu về mình. Nó không biết gì tới siêu việt, và vì thế không biết gì tới truyền giáo.

Thứ ba là đề nghị ngộ đạo khá gắn bó với cám dỗ kể trên. Nó thường được gặp trong các nhóm ưu việt với một đề nghị tu đức cao hơn, không nhập thể, và kết thúc bằng các thái độ mục vụ của loại ”các vấn nạn của việc thảo luận”. Đó đã là sự lệch lạc đầu tiên của cộng đoàn Kitô tiên khởi, và nó tái xuất hiện trong dòng lịch sử Giáo Hội, với các ấn bản được duyệt lại và sửa chữa. Một cách tầm thường người ta gọi họ là ”các tín hữu Công Giáo được soi sáng” (để hiện nay là những kẻ thừa tự của nền văn hóa duy quang luận).

Thứ bốn là đề nghị của Pelagio. Nó xuất hiện một cách nền tảng dưới hình thức tái thiết. Trước các bệnh của Giáo Hội người ta chỉ tìm một giải pháp kỷ luật, trong việc tái lập các thái độ và hình thức đã lỗi thời và cũng không có khả năng có ý nghĩa trên bình diện văn hóa. Tại châu Mỹ Latinh nó được hiệm thực trong các nhóm nhỏ, trong một vài dòng tu, trong các khuynh hướng ”an ninh giáo thuyết hay kỷ luật”. Một cách nền tảng nó ở trong thế tĩnh, mặc dù có thể tái hứa hẹn một năng động vào bên trong biến đổi. Nó tìm ”thu hồi” qúa khứ đã mất.

Cám dỗ thứ hai là chủ trương hữu hiệu. Hoạt động của nó trong Giáo Hội gây tê liệt. Hơn là với thực tại của đường đi, nó hứng khởi với ”bảng chỉ đường”. Quan niệm duy hữu hiệu không nhân nhượng mầu nhiệm, nó nhắm sự hữu hiệu. Nó giản lược thực tại của Giáo Hội vào cấu trúc của một tổ chức phi chính quyền. Điều có giá trị là kết qủa có thể nhận thấy được và các thống kê. Từ đó người ta đi tới tất cả các kiểu doanh nghiệp của Giáo Hội. Nó làm thành một loại ”thần học của sự phồn thịnh” trong khía cạnh tổ chức mục vụ.

Cám dỗ thứ ba là chủ thuyết duy giáo sĩ, nó cũng là một cám dỗ rất thời sự tại châu Mỹ Latinh. Một cách kỳ lạ là trong đa số các trường hợp đây là một sự đồng lõa tội lỗi: cha sở giáo sĩ hóa giáo dân, và giáo dân xin cha sở giáo sĩ hóa mình, bởi vì nói cho cùng thì tiện lợi hơn cho họ. Hiện tượng của khuynh hướng giáo sĩ giải thích phần lớn sự thiếu trưởng thành và sự tự do Kitô nơi một phần giáo dân châu Mỹ Latinh. Hoặc là không lớn lên, đó là trường hợp của đa số, hoặc là ru rú dưới các lớp áo của các ý thức hệ hóa như đã thấy, hay có các dáng bề ngoài một phần và hạn chế. Trong các vùng đất của chúng ta có một hình thức tự do giáo dân qua các kinh nghiệm của dân chúng: tín hữu Công Giáo như là dân chúng. Ở đây người ta thấy có một sự độc lập lớn hơn, nói chung lành mạnh, được diễn tả ra một cách nền tảng trong lòng đạo đức bình dận. Chương nói về lòng đạo đức bình dân trong tài liệu Aparecida miêu tả chiều kích này môt cách sâu xa. Đề nghị của các nhóm kinh thánh, của các cộng đoàn Giáo Hội cơ bản, và của các Hội đồng mục vụ đi theo hướng vượt thắng chủ thuyết duy giáo sĩ, và làm cho trách nhiệm của giáo dân lớn lên.

Chúng ta có thể tiếp tục miêu tả vài cám dỗ khác chống lại tông đồ truyền giáo nhưng tôi tin rằng các cám đỗ trên đây là các cám dỗ quan trọng nhất và trong lúc này có sức mạnh lớn hơn tại châu Mỹ Latinh và quần đảo Caraibi.

Trong phần sau cùng của diễn văn Đức Thánh Cha Phanxicô đề nghị vài tiêu chuẩn có tính cách Giáo Hội học.

Thứ nhất, việc làm môn đệ thừa sai, mà tài liệu Aparecida đề nghị với các Giáo Hội châu Mỹ Latinh và vùng Caraibi, là con đường mà Thiên Chúa muốn cho ngày ”hôm nay”. Tất cả dự phóng ảo tưởng (về tương lai) hay việc tái lập (qúa khứ) không phải là tinh thần tốt. Thiên Chúa thực tại và biểu lộ ra trong ngày ”hôm nay”. Hướng về quá khứ, sự hiện diện của Người được ban cho chúng ta như ”ký ức” của công trình cứu chuộc vĩ đại trong dân Người cũng như nơi mỗi một người trong chúng ta; hướng về tương lai nó được ban cho chúng ta như ”lời hứa” và niềm hy vọng. Trong qúa khứ Thiên Chúa đã hiện diện và để lại bước chân của Người: ký ức giúp chúng ta gặp gỡ Người. Trong tương lai nó chỉ là lời hứa... và không ở trong một ngàn lẻ một ”các điều có thể trong tương lai”. Ngày ”hôm nay” là giống với đời đời nhất; còn hơn thế nữa ngày ”hôm nay” là ”tia sáng của vĩnh cửu”. Trong ”Hôm nay” người ta định đoạt cuộc sống vĩnh cửu.

Việc làm môn đệ thừa sai là ơn gọi: được gọi và được sai đi. Nó được ban cho ngày ”hôm nay” nhưng trong sự ”hướng tới”. Không có việc làm môn đệ thừa sai tĩnh một chỗ. Người môn đệ thừa sai không thể chiếm hữu chính mình, cái tự tại của họ hướng tới sự siêu việt của môn đệ thừa sai và sự siêu việt của sứ mệnh đó không chấp nhập việc tự quy chiếu về chính mình: hoặc là họ quy chiếu về Chúa Giêsu Kitô, hoặc họ quy chiếu người dân mà họ phải loan báo Tin Mừng cho. Chủ thể tự siêu việt. Chủ thể dự phóng về cuộc gặp gỡ: cuộc gặp gỡ với Thầy Giêsu, là Đấng xức dầu biến chúng ta thành môn đệ, và cuộc gặp gỡ với những người chờ đợi việc loan báo.

Chính vì thế tôi thích nói rắng thế đứng của người môn đệ thừa sai không phải là một thế đứng trung tâm, nhưng ở ngoại ô: họ sống hướng về các vùng ngoại ô... bao gồm cả các vùng ngoại ô của sự vĩnh cửu trong cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu Kitô. Trong việc loan báo Tin Mừng, nói về các ”vùng ngoại ô của cuộc sống” là phân tâm, và chúng ta thường sợ hãi ra khỏi trung tâm. Người môn đệ thừa sai được mời gọi đi tới các vùng ngoại ô của cuộc sống.

Tiêu chuẩn Giáo Hội học thứ hai. Giáo Hội là cơ cấu, nhưng khi Giáo Hội đứng lên ở trung tâm, thì nó hoạt động và từ từ biến thành một tổ chức phi chính quyền. Khi đó Giáo Hội yêu sách có ánh sáng riêng của mình, và thôi là ”mầu nhiệm của mặt trăng” như các Giáo Phụ nói với chúng ta. Càng ngày Giáo Hội càng tự lấy mình làm điểm quy chiếu, và sự cần thiết truyền giáo yếu kém đi. Từ ”Cơ cấu” Giáo Hội biến thành ”Công trình”. Giáo Hội thôi là Hiền Thê để sau cùng là Người quản trị, từ Nữ tỳ biến thành ”Người kiểm soát”. Hội nghị Aparecida muốn có một Giáo Hội Hiền Thê, Mẹ, Nữ tỳ, người tạo dễ dàng cho đức tin, chứ không phải người kiểm soát đức tin.

Tiêu chuẩn Giáo Hội học thứ ba. Tại Aparecida chúng ta đã chú ý đến hai phạm trù mục vụ phát xuất một cách độc đáo từ Tin Mừng, và cũng có thể được dùng như tiêu chuẩn giúp lượng định giá trị kiểu cách, trong đó chúng ta sống ơn gọi môn đệ thừa sai một cách Giáo Hội: đó là sự gần gũi và việc gặp gỡ.

Không có điều nào mới cả, nhưng chúng làm thành mô thức trong đó Thiên Chúa đã tự mặc khải trong lịch sử. Đó là vì ”Thiên Chúa gần gũi” dân Người, sự gần gũi đạt tột đỉnh với việc nhập thể. Đó là vì Thiên Chúa đi ra để gặp gỡ dân Người. Bên châu Mỹ Latinh và vùng Caraibi có các mục vụ ”xa cách”, mục vụ kỷ luật, dành ưu tiên cho các nguyên tắc, các thái độ, các tiến trình tổ chức... hiển nhiên là không gần gũi, không dịu hiền, không vuốt ve. Người ta không biết tới cuộc ”cách mạng của sự hiền dịu” khơi dậy sự nhập thể của Ngôi Lời. Có các mục vụ áp đặt với một độ xa cách tới nỗi không có khả năng đưa tới cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu Kitô, và với người anh em. Từ loại mục vụ này cùng lắm chỉ có thể chờ đợi một chiều kích chiêu dụ tín đồ, nhưng chúng không bao giờ đưa tới chỗ đạt được việc tháp nhập vào Giáo Hội cũng như thuộc về Giáo Hội. Sự gần gũi chiếm hữu được hình thái đối thoại, và tạo ra một nền văn hóa gặp gỡ. Bài giảng là một viên đá so sánh giúp điều chỉnh sự gần gũi và khả năng gặp gỡ của một mục vụ. Các bài giảng như thế nào? Chúng đưa chúng ta tới gần gương mẫu của Chúa chúng ta, là Đấng ”nói như ngươi có uy tín”, hay chúng chỉ là giáo điều, xa vằng và trừu tượng?

Tiêu chuẩn giáo hôi học thứ bốn là Giám Mục, Người hướng dẫn mục vụ, hướng dẫn Sứ mệnh đại lục, có chương trình cũng như là mô thức. Vị Giám Mục phải hướng dẫn thì khác với việc ngồi chễm chệ như ông chủ. Ngoài việc nhấn mạnh các gương mặt vĩ đại của hàng Giám Mục châu Mỹ Latinh mà chúng ta tất cả đều biết, tôi ước muốn thêm ở đây vài đường nét liên quan tới chân dung của vị Giám Mục, mà tôi đã trình bầy với các vị Sứ Thần trong cuộc họp chúng tôi đã có tại Roma.

Các Giám Mục phải là các Mục Tử, gần gũi với dân chúng, là người cha, người anh em, với nhiều hiền dịu, kiên nhẫn và thương xót. Là những người yêu sự khó nghèo, sự khó nghèo nội tâm như sự tự do trước mặt Chúa, cũng như sự khó nghèo bên ngoài như sự đơn sơ và khắc khổ của cuộc sống. Là những người không có ”tâm lý của các ông hoàng”. Là những người không tham vọng và là các phu quân của một Giáo Hội chứ không đợi chờ một Giáo Hội khác. Là những người có khả năng thức tỉnh trên đoàn chiên đã được giao phó, và săn sóc tất cả những gì duy trì doàn chiên hiệp nhất: canh giữ đoàn chiên, chú ý tới các hiểm nguy có thể đe dọa nó, nhưng nhất là làm cho niềm hy vọng lớn lên: ước gì các Mục Tử ấy có mặt trời và ánh sáng trong tim. Là những người có khả năng nâng đỡ các bước đi của Thiên Chúa nơi dân Người với tình yêu thương và lòng kiên nhẫn. Và có ba chỗ của Giám Muc ở với dân mình: hoặc là ở đàng trườc để chỉ đường, hay ở giữa để duy trì đoàn chiên hiệp nhất và trung lập hóa các tán loạn, hoặc ở đàng sau để tránh cho ai đó ở lại đàng sau, nhưng cũng một cách nền tảng, để cho chính đoàn chiên đánh hơi hầu tìm ra các con đường mới.

Tôi không muốn nói nhiều hơn đến các chi tiết sau cùng về con người của vị Giám Mục, nhưng chỉ xin thêm một cách đơn sơ, bao gồm cả tôi nữa trong khẳng định này: là chúng ta hơi chậm trễ trong những gì quy chiếu về sự Hoán cải mục vụ. Thật thích hợp là chúng ta giúp nhau nhiều hơn một chút để làm các bước đi mà Chúa muốn cho chúng ta trong ngày ”hôm nay” này của châu Mỹ Latinh và vùng Caraibi. Và thật tốt là bắt đầu từ đây.

Tôi xin cám ơn anh em đã kiên nhẫn lắng nghe tôi. Xin tha lỗi cho diễn văn vô trật tự của tôi, và tôi xin anh em, chúng ta hãy nghiêm chỉnh ý

thức về ơn gọi của chúng ta là phục vụ Dân thánh trung thành của Thiên Chúa, vì chính ở đây chúng ta thực thi và cho thấy quyền bính: trong khả năng phục vụ. Xin cám ơn anh em.

(SD 28-7-2013)

Linh Tiến Khải

Đức Thánh Cha SẼ LOAN BÁO NGÀY PHONG HIỂN THÁNH CHO ĐỨC GIOAN XXIII VÀ ĐỨC GIOAN PHAOLÔ II

RIMINI: Ngày 20-8-2013 Đức Hồng Y Angelo Amato, Tổng trưởng Bộ Phong Thánh, đã xác nhận rằng ngày 30-9-2013 Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ loan báo ngày phong hiển thánh cho Đức Chân phước Giáo Hoàng Gioan XXIII và Đức Chân phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.

Đức Hồng Y Tổng Trưởng đã trả lời phóng viên Luca Collodi của đài Vaticăng trong cuộc phỏng vấn, khi ngài tham dự buổi khánh thành cuộc triển lãm về thánh Giovanni Battista Piamarta trong khuôn khổ Đại hội các dân tộc tại Rimini trung Italia. Đức Hồng Y cho biết ngày 29-7-2013 trong cuộc phỏng vấn dành cho các nhà báo quốc tế trên chuyến bay từ Rio de Janeiro về Roma, Đức Thánh Cha đã cho biết lễ phong thánh sẽ diễn ra trong năm 2014. Và ngài sẽ thông báo thời điểm.

Đức Gioan XXIII đã là một tiên tri lớn và là người đã triệu tập Công Đồng Chung Vaticăng II, trong khi Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II là người đã thực thi và phát triển các giáo huấn của Công Đồng trong tất cả các khía cạnh và sức mạnh của nó. Hai vị thật là hai cột trụ của nền văn hóa và sự thánh thiện của Kitô giáo (RG 20-8-2013)

Linh Tiến Khải

ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ ĐỘT XUẤT THĂM KHU VỰC KỸ NGHỆ CỦA THẢNH VATICĂNG

VATICĂNG: Sáng thứ sáu 9-8-2013, Đức Thánh Cha Phanxicô đã bất thình lình đến thăm khu vực kỹ nghệ trong nội thảnh Vaticăng, trước sự ngỡ ngàng vui sướng của các nhân viên. Ngài chào thăm và nói chuyện với các nhân viên của xưởng mộc, nhà máy điện, phòng thí nghiệm thủy điện lực và một kho chứa hàng.

Đức Thánh Cha đã đến khu vực này lúc sau 9 giờ, ngài vào các xưởng máy và chào nhân viên. Chuyến viếng thăm kéo dài 20 phút. Đức Thánh Cha đã chăm chú lắng nghe lời giải thích của một nhân viên trung tâm nhiệt năng và bắt tay ba nhân viên khác đang làm việc tại đây. Nghe tin Đức Thánh Cha đến thăm, các nhân viên toàn khu vực kỹ nghệ đã chạy ra chào và Đức Thánh Cha đã bắt tay từng người và chúc họ làm việc tốt. Sau đó ngài lên chiếc xe C1 nhỏ của ông quản gia Sandro Mariotti rồi trở về nhà trọ Thánh Marta.

Chuyến viếng thăm ngắn gọn, nhưng đủ cho Đức Thánh Cha có ý niệm về sinh hoạt của các nhân viện một khu vực ít người để ý trong nội thành Vaticăng có từ thời Đức Giáo Hoàng Pio XI. Và chắc chắn đây chưa phải là chuyến viếng thăm đột xuất cuối cùng Đức Thánh Cha Phanxicô dành cho các nhân viên làm việc trong Quốc gia thành phố Vaticăng (SD 9-8-2013).

Linh Tiến Khải

 

ĐỨC THÁNH CHA CÔNG BỐ TÔNG THƯ TỰ SẮC PHÒNG CHỐNG RỬA TIỀN, TÀI TRỢ KHỦNG BỐ VÀ GIA TĂNG VŨ KHÍ TÀN PHÁ HÀNG LOẠT

VATICĂNG: Ngày mùng 8-8-2013 Đức Thánh Cha Phanxicô đã công bố Tông Thư Tự Sắc nhằm phòng chống việc rửa tiền, tài trợ khủng bố và gia tăng vũ khí tàn phá hàng loạt.

Đức Thánh Cha nêu bật rằng việc thăng tiến phát triển nhân bản toàn vẹn trên bình diện vật chất và luân lý đòi hỏi phải suy tư sâu xa về ơn gọi của các lãnh vực kinh tế và tài chánh, cũng như sự tương ứng của chúng với mục đích tối hậu là thực hiện thiện ích chung. Chính vì thế phù hợp với bản chất và sứ mệnh của mình Tòa Thánh tham gia vào các cố gắng của Cộng đồng quốc tế nhằm che chở và thăng tiến sự toàn vẹn, ổn định và trong sáng của các lãnh vực kinh tế và tài chánh, và phòng chống các hoạt động tội phạm.

Trong sự tiếp nối hoạt động của Đức Biển Đức XVI đã công bố Tự sắc ngày 30 tháng 12 năm 2012, Đức Thánh Cha Phanxicô ước mong canh tân dấn thân của Tòa Thánh trong việc áp dụng các nguyên tắc và sử dụng các dụng cụ do Cộng đồng quốc tế đề ra, nhằm phòng chống việc rửa tiền, tài trợ khủng bố và gia tăng các vũ khí tàn phá hàng loạt.

Với Tông Thư Tự Sắc này Đức Thánh Cha đưa ra 4 khoản thiết định như sau:

Khoản 1. Các Cơ quan trung ương Tòa Thánh, các tổ chức và hiệp hội tùy thuộc Tòa Thánh cũng như các cơ quan không có mục đích lợi nhuận có tư cách pháp nhân theo giáo luật và có trụ sở trong Quốc gia thành Vaticăng, phải tuân hành các luật lệ của Quốc gia thành Vaticăng liên quan tới:

a) các biện pháp phòng chống rửa tiền và tài trợ khủng bố
b) các biện pháp chống lại các chủ thể đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế
c) thận trọng canh chừng các hiệp hội có một hoạt động chuyên nghiệp có bản chất tài chánh.

Khoản 2. Giới chức Thông tin Tài chánh thi hành nhiệm vụ thận trọng canh chừng các hiệp hội có một hoạt động chuyên nghiệp có bản chất tài chánh.

Khoản 3. Các tổ chức pháp lý thẩm quyền của Quốc Gia thành Vaticăng thực thi quyền phán quyết trong các vấn đề kể trên, cả đối với các Cơ quan trung ương và các tổ chức và hiệp hội tùy thuộc Tòa Thánh, cũng như các tổ chức không có mục đích lợi nhuận có tư cách pháp nhân theo giáo luật và trụ sở trong Quốc gia thành Vaticăng.

Khoản 4. Ủy ban An ninh Tài chánh được thành lập với mục đích phối hợp các Giới chức thẩm quyền của Tòa Thánh và Quốc gia thành Vaticăng liên quan tới việc phòng chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và gia tăng vũ khí tàn phá hàng loạt. Ủy ban theo kỷ luật hiệp nhất với Tông Thư này.

Đức Thánh Cha thiết định rằng Tông Thư trong hình thái Tự Sắc này được công bố qua báo Quan sát viên Roma.

Ngài cũng đặt định rằng những gì đã được thiết định có gía trị tràn đầy và ổn định hủy bỏ tất cả các đặt định không thích hợp, bắt đầu từ ngày mùng 10 tháng 8 năm 2013.

Ban hành tại Roma từ dinh Tông Tòa ngày mùng 8 tháng 8 năm 2013 năm thứ nhất triều đại giáo hoàng.

Ký tên Phanxicô

(SD 8-8-2013)

Linh Tiến Khải

 

August 26, 2013


-www.vietvatican.net

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)